CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ ĐÊ ĐIỀU VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về đê điều Đê điều là công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật. Phân loại hệ thống đê điều 1.
Phân loại theo nhiệm vụ của đê điều Hệ thống đê điều hiện nay được chia làm nhiều loại tương ứng với từng nhiệm vụ ở từng khu vực khác nhau như [5]: a. Đê điều là hệ thống công trình bao gồm đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê và công trình phụ trợ; b. Đê sông là đê ngăn nước lũ của sông ; c. Đê biển là đê ngăn nước biển; d.
Đê cửa sông là đê chuyển tiếp giữa đê sông với đê biển hoặc bờ biển; e. Đê bao là đê bảo vệ cho một khu vực riêng biệt; f. Đê bối là đê bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của đê sông; g. Đê chuyên dùng là đê bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt.
Phân loại đê điều theo cấp đê [5] Theo cấp, đê được phân thành 6 cấp là: cấp đặc biệt; cấp I; cấp II; cấp III; cấp IV; và cấp V theo mức độ quan trọng từ cao đến thấp. Việc phân cấp đê do Chính phủ quy định dựa theo các tiêu chí sau: (1) Số dân được đê bảo vệ; (2) Tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội; (3) Đặc điểm lũ, bão của từng vùng; (4) Diện tích và phạm vi địa giới hành chính; (5) Độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế; và (6) Lưu lượng lũ thiết kế. Khái niệm về quản lý đê điều 2 Quản lý đê điều là việc tổ chức bộ máy quản lý đê điều ở các cấp để nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng đê và các công trình thuộc hệ thống đê điều, vận hành hoạt động, duy tu sửa chữa, cải tạo nâng cấp, kiên cố hóa, xử lý các sự cố, quản lý bảo vệ thường xuyên, hộ đê trong những trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo cho tuyến đê hoạt động an toàn, đáp ững được các mục tiêu nhiệm vụ được đặt ra về bảo vệ đời sống dân sinh, phát triển kinh tế và giữ gìn môi trường [5]. Vai trò của hệ thống đê điều Hệ thống đê ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài sản, mùa màng và tính mạng của người dân.
Việt Nam có lượng mưa và dòng chảy khá phong phú. Lượng mưa bình quân hằng năm của cả nước đạt gần 2000 mm. Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có 2360 sông với chiều dài từ 10 km trở lên và hầu hết sông ngòi đều chảy ra biển Đông. Tổng lượng dòng chảy bình quân vào khoảng 830 tỷ m3/năm, trong đó có 62% là từ lãnh thổ bên ngoài.
Phân bố mưa và dòng chảy trong năm không đều, 75% lượng mưa và dòng chảy tập trung vào 3 - 4 tháng mùa mưa. Mùa mưa lại trùng với mùa bão nên Việt Nam luôn phải đối mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là lũ lụt.Việt Nam với đặc thù là nước có đường bờ biển dài hơn 2000 km vì thế tầm quan trọng của các hệ thống đê sông và đê biển là cực kì quan trọng. Hàng năm Việt Nam đón nhận hơn 10 cơn bão từ Biển Đông, cùng với các hiện tượng thời thiết khác về mùa mưa bão khiến mực nước các sông thường dâng lên rất nhanh. Bão vào Việt Nam ngày càng mạnh sóng vào từ các cơn bão thường là rất cao vì thế đối với nước ta hệ thống đê điều là cực kì quan trọng để bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân và của nhà nước.
Nội dung của công tác quản lý đê điều Có nhiều nội dung liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương về công tác quản lý đê điều, nhưng tựu chung lại có thể nhóm thành những nội dung chính sau đây [5]: - Tổ chức bộ máy quản lý đê điều; - Xây dựng, ban hành hệ thống các chính sách về quản lý đê điều; 3 - Quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, kiên cố hóa hệ thống đê điều; - Tổ chức bảo vệ và quản lý sử dụng đê điều; - Tổ chức tốt điều kiện tài chính, nhân lực, công tác hộ đê; - Áp dụng tiến bộ kỹ thuật và hợp tác trong quản lý đê điều; - Xử lý các vi phạm về đê điều; - Giám sát hoạt động trong quản lý đê điều. Quá trình phát triển đê điều ở một số quốc gia và Việt Nam 1. Tình hình phát triển đê điều ở một số quốc gia 1. Tình hình phát triển đê điều ở Hà Lan Trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay thì các hệ thống đê điều ngày càng được đầu tư phát triển nhằm ứng phó với nguy cơ nước dâng.
Tiêu biểu cho các công trình đê điều là các công trình đê biển ở Hà Lan. Nằm ở phía Tây Bắc của Châu Âu, Hà Lan được biết đến là một đất nước với hơn 60% diện tích đất nằm thấp hơn so với mực nước biển. Hà Lan đã xây dựng hệ thống các công trình đê biển, kè biển, cửa cống và cửa chắn nhằm bảo vệ các khu vực đất đai rộng lớn khu vực phía Tây - Nam chiếm 27% lãnh thổ của quốc gia này nằm dưới mực nước biển ở độ sâu 6,74m. Đê biển Afsluitdijk là một trong những minh chứng điển hình với tổng chiều dài hơn 32km, rộng 90m, và độ cao ban đầu 7,25m trên mực nước biển trung bình.
Công trình này chạy dài từ mũi Den Oever thuộc tỉnh Noord Holland lên đến mũi Zurich thuộc tỉnh Friesland được xây dựng từ 1927 đến 1933 đê biển Afsluitdijk đóng vai trò quyết định trong quy hoạch tổng thể điều phối thuỷ văn, chống lụt, rửa mặn, và tưới tiêu lớn nhất Hà Lan trong thế kỷ 20. Mục đích chính của dự án là nhằm giúp Hà Lan giảm thiểu tối đa tác động của biển Bắc đến hoạt động thuỷ sản và nông nghiệp khu vực các tỉnh phía Bắc. Giờ đây, hệ thống đê biển ở Hà Lan đã trở thành một bức trường thành ngăn chặn các thảm họa của biến đổi khí hậu. Người ta có thể vượt trên các con đê, kè biển với tốc độ hơn 100km/giờ.
ở một số đoạn của con đê, người ta 4 còn xây dựng các nhà hầm, khách sạn và bảo tàng phục vụ du khách từ các nơi đến tham quan và nghiên cứu kinh nghiệm của Hà Lan. Mức đảm bảo chống lũ hiện tại của hệ thống đê của Hà Lan cao hơn của nước ta rất nhiều, tới đây mức đảm bảo chống lũ ở một số khu vực của Hà Lan sẽ được nâng lên gấp 10 lần so với hiện nay, có nơi đưa lên tới tần suất 10.000 năm xuất hiện một lần, còn ở Việt Nam, đa số ở mức 50-100 năm xuất hiện một lần, riêng sông Hồng sau khi hồ Sơn La vào hoạt động thì đạt mức đảm bảo chống lũ 500 năm xuất hiện một lần. Hệ thống đê của Hà Lan luôn được kết hợp làm hệ thống đường giao thông hiện đại vừa tiết kiệm đầu tư, vừa tiết kiệm đất và thuận lợi cho quản lý khai thác. Quan điểm xây dựng đê thân thiện với môi trường, với hình thức đê này, kết hợp với việc trồng rừng ngập mặn và cỏ bảo vệ đê sẽ tạo ra một số ưu điểm như: Độ an toàn cao; gần gũi với thiên nhiên; bố trí giao thông thuận lợi; có thể tiếp tục sản xuất nông nghiệp; có thể kết hợp bố trí du lịch, vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa và đô thị hóa.
Tình hình phát triển đê điều ở Hàn Quốc và Indonesia Công trình đê biển dài nhất thế giới của Hàn Quốc dài 33. Đê Saemangeum cách thành phố Seoul khoảng 200 km về phía nam. Nó có một xa lộ ở phía trên. Đê chắn biển mang tên Saemangeum bao quanh một vùng biển có diện tích 401 km2 - bằng khoảng 2/3 diện tích thành phố Seoul.
Với chiều dài 33,9 km, nó nằm giữa biển Hoàng Hải và cửa sông Saemangeum. Đê chắn biển Saemangeum sẽ biến những bãi lầy và nước thủy triều thành những ngành công nghiệp sạch. Nó cũng sẽ tạo nên nhiều tác động tích cực đối với du lịch, nông nghiệp và môi trường và biến một vùng đất hoang rộng lớn thành đất trồng trọt. Chính phủ Hàn Quốc sẽ xây một thành phố mới để phát triển các ngành công nghiệp, vận tải, du lịch, giải trí và trồng hoa.
Ngoài ra vùng đất được khai hoang và thành phố cảng Gunsan sẽ cùng sở hữu một khu phức hợp kinh tế quốc tế, được gọi là Khu vực tự do kinh tế Saemangeum - Gunsan. Khu phức hợp này sẽ được xây xong vào năm 2020. 5 Indonesia một trong năm nước trên thế giới được dự báo sẽ bị tác động nặng nề nhất do nước biển dâng cao vì thế họ dự định xây dựng một con đê khổng lồ sẽ bảo vệ thủ đô Jakarta trước tình trạng biến đổi khí hậu bảo vệ và cải thiện tình hình ngập lụt ở khu vực Bắc Jakarta, cũng như đối phó với nguy cơ nước biển dâng trong những thập kỷ tới. Với kinh phí 5 tỉ USD vay của Hà Lan và được thanh toán chủ yếu bằng tiền huy động từ nguồn vốn tư nhân, dự khiến con đê khổng lồ này sẽ dài 60 km, từ Tangerang, Jakarta đến Bekasi ở phía bắc thủ đô.
Ngoài việc ngăn nước biển, theo tỉnh trưởng Jakarta, Fauzi Bowo, con đê này sẽ tạo ra một đập nước khổng lồ đa chức năng, trong đó có việc cung cấp nước sạch cho thành phố. Dự kiến bắt đầu vào cuối tháng 11/2012, và việc mở thầu cho các dự án liên quan sẽ được tiến hành vào năm 2014 tại Hà Lan, để có thể bắt đầu khởi công vào năm 2015 và hoàn thành sau 10 năm xây dựng. Một số bài học cho Việt Nam trong phát triển hệ thống đê điều Hiện nay ở Việt Nam hệ thống đê điều đã được quan tâm đầu tư nhưng hầu hết những quy hoạch hiện nay mới chỉ tập trung và phát triển những hệ thống đê hiện có mà chưa tập trung nghiên cứu quy hoạch phát triển những hệ thống đê điều ở những khu vực chưa có đê như đồng bằng sông Cửu Long, tất nhiên ở khu vực này việc làm đê kiên cố là không khả thi nhưng chúng ta có thể phát triển các hệ thống đê di động như một số nước như Đức, Hà Lan.