Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề về hứng thú và hứng thú học tập 1. Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về hứng thú đã được tiễn hành ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các nghiên cứu được tiễn hành bởi nhiều tác giả khác nhau, mỗi tác phẩm đã đóng góp hình thành nên một nền tảng cơ sở lý thuyết về hứng thú và hứng thú học tập, càng ngày, các nghiên cứu về sau có thiên hướng ứng dụng lý thuyết vào các hoạt động sống của xã hội hơn.
Nhìn nhận về hứng thú, nhiều người đưa ra cách nhìn nhận riêng theo quan điểm cá nhân.P Guilford — nhà tâm lý học người Mỹ, ông xem hứng thú là những ham muốn 6n định trong các hoạt động nhất định. [dẫn theo 22, Tr.10] Cùng quan điểm với J.P Guilford, gắn hứng thú với các hoạt động cụ thể, John Dewey cho rằng: hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất hóa với một ý tưởng hoặc một vật thé, khi nó tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ và chúng trở thành thức ăn thiết yếu cho sự hoạt động của nó [dẫn theo 17, Tr. Dé hứng thú có thể được hình thành, nhất thiết con người phải tham gia vào hoạt động thì mới có thể tìm được ý tưởng hay một vật thể nào đó, chính trong quá trình tương tác con người ý thức được sự quan trọng của nó, coi nó như “thức ăn thiết yếu” của hoạt động, nếu không có nó thì con người không thê tiến hành hoạt động được. Quan niệm hứng thú là một phần của xu hướng, trong đó xu hướng được hiểu theo nghĩa có tính định hướng, xu hướng cùng với khí chất và năng lực cấu tạo nên nhân cách con người, chúng được hình thành để phù hợp với các yêu cầu của hoạt động nhờ mối liên kết phù hợp yêu cầu của các thuộc tính tâm lý.
[dẫn theo 19, Tr. Nhu vậy có thé thay, A. Côvaliôp — nhà Tâm lý học Liên xô cũng nhìn nhận rằng hứng thú được hình thành trong quá trình con người tham gia vào các hoạt động, trong quá trình tương tác này, hứng thú và các quá trình tâm lý khác được hình thành do sự thúc đây của các yêu cầu cần thiết dé hoạt động diễn ra. Trong các hoạt động sống, ngoài những hoạt động mang tính chất cá nhân, con người dành phần lớn thời gian cho các hoạt động xã hội, khi tham gia vào các hoạt động này ngoài việc tham gia góp phần kiến thiết và xây dựng xã hội, con người còn tìm thấy sự thoải mái, có đời sống tâm lý lành mạnh hơn.
Alfred Adler — nhà Tâm lý học người Áo, học trò của Sigmund Freud, đã nghiên cứu về tính xã hội trong bản chất của con người, trong đó, ông nhận thấy con người có hứng thú xã hội càng nhiều thì càng nỗ lực nhiều dé thực hiện các nhiệm vụ xã hội và cảng có được nhiều sức khỏe tâm lý hơn, theo ông, hứng thú xã hội chính là chìa khóa của sức khỏe tâm lý. [ dẫn theo 19, Tr.53] Cùng quan điểm hứng thú có tác động mạnh đến đời sống tinh thần của con người, L.X Vưgốtxki đã chỉ ra rằng hứng thú chính là một trong các nguyên nhân của tư duy trong tình cảm: “Ai mà ngay từ dau tách tư duy khỏi tình cảm, người đó không bao giờ giải thích nổi nguyên nhân của tr duy, vì vậy phương pháp quyết định luận phân tích tư duy nhất thiết phải tim ra các động cơ thúc đẩy ÿ nghĩ, phải tìm ra các nhu cẩu, hung thu, kích thích, xu hướng xác định sự vận động của y nghĩ theo phương này hay theo hướng kia”. [ dẫn theo 11, Tr.583] Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng hứng thú được hình thành và gắn liền với các hoạt động sống của con người. Các nghiên cứu ứng dụng lý thuyết về hứng thú vào thực tiễn, phần nhiều được ứng dụng trong hoạt động dạy — học.
Nghiên cứu về vấn đề hứng thú học tập này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, trong đó, ngoài những tác gia Tâm lý học, còn có cả các nhà Giáo dục học. Với Jean Piaget - nhà Tâm lý học nồi tiếng người Thụy Sỹ, ông đã tiến hành rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục. Từ các công trình nghiên cứu khác nhau, Jean Piaget đã đưa ra nguyên tắc giáo dục của một nhà trường mới là phải yêu cầu hoạt động thực sự, lao động hồn nhiên, dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân. Theo ông, hứng thú chính là yếu tô thúc đây sự thích nghỉ tạo nên trí thông minh cả ở trẻ em và ở người lớn, vì vậy đối xử với trí thông minh của cả trẻ em và người lớn không thé áp dụng những phương pháp sư phạm thuần túy: “Bat cứ sự thông minh nào cũng đều là một sự thích nghi, bat cứ sự thích nghi nào cũng bao hàm một sự đồng hóa những sự vật của trí óc, cũng như quá trình bổ sung của sự điều ứng, vậy là mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một sự hứng thú” [17, Tr.180 — 187] Từ những năm 50 của thế kỷ trước, V.Ivanop đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giáo dục phát triển hứng thú học tập cho học sinh trong các nhà trường”.
Trong đó, tác giả có nhấn mạnh rằng: giáo dục phát triển hứng thú học tập cho học sinh phải được coi là một nhiệm vu quan trọng của quá trình dạy học. Quá trình dạy hoc nhằm mục đích truyền thụ kiến thức cho học sinh, vậy theo quan điểm của tác giả, việc giáo dục hứng thú cũng có vai trò quan trọng không kém so với việc giảng dạy kiến thức. [dan theo 8, Tr 8] Vai trò của hứng thú học tap là rất lớn, có khả năng kích thích, tăng cường hiệu quả cho hoạt động học tập mà người học tham gia. Usinxki — nha giáo dục vĩ đại cua Nga, đã rất nhân mạnh vai trò của hứng thú trong hoạt động học: trong học tập không có sự hứng thú mà chỉ dùng sức mạnh của sự cưỡng ép nó dé làm cho óc sáng tạo của người ta ngày thêm mai một, nó sẽ làm cho người ta thờ ơ với hoạt động này, vì vậy, muốn tránh việc trừng phạt và cưỡng bách sinh viên thì cần phải làm cho việc học trở nên hứng thú và dé hiểu.
[dẫn theo 3, Tr.135] Hứng thú có vai trò, ý nghĩ giáo dục lớn, song dé gây hứng thú cho người học, cần những phương pháp cụ thể. Nghiên cứu đề xuất các mô hình gây hứng thú cho người học được nhiều tác giả đề xuất. Bloom và các cộng sự đã đưa ra một mô hình sư phạm, trong đó việc gây hứng thú cho người học là yếu tố được đặt lên hàng đầu, mô hình gồm các bước: gây hứng thú cho người học; chỉ rõ kết quả phải đạt; xác định ngưỡng thành công hoặc mức độ tối ưu thành công đối với mỗi người học; ding các tác động thường xuyên; cuối cùng là thực hiện các phương pháp điều chỉnh. [dan theo 18, Tr.104] Việc gây được hứng thú cho người học, phần lớn là do sự tác động của người dạy, người dạy đóng vai trò là người khởi nguồn, kích thích, hình thành và dẫn dắt hứng thú học tập cho người học.
Theo Jean — Marc Denommé va Madeleine Roy, việc gây hứng khởi ở người học là điều kiện tiên quyết, người dạy phải thổi cơn gió hứng thú mạnh vào lớp học, người học sẽ tham gia tích cực vao việc học nếu như họ cảm thấy một sự hứng thú thực sự làm thỏa mãn một nhu cầu nào đó ở họ. Trên quan điểm này, các tác giả đã đề xuất phương pháp sư phạm hứng thú, là phương pháp nhằm mục đích làm cho người học ý thức rằng có một mối quan hệ đầy hứng thú giữa chính bản thân họ và đối tượng học.127] Như vậy có thé nhận thấy, các nghiên cứu được tiến hành bởi nhiều tác giả khác nhau trên thế giới, nhưng đều có một quan điểm chung, nhìn nhận hứng thú như là một phần của nhân cách, gắn liền với hoạt động của cá nhân. Hứng thú học tập đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa lớn với công tác giáo dục. Hứng thú, một mặt vừa thúc đây hoạt động học tập, một mặt vừa là kết qua của chính qua trình đó, người day cần quan tâm, tạo kích thích hợp lý dé làm nảy sinh hứng thú học tập ở người học, duy trì và định hướng nó, tạo động lực giúp hoạt động học trở nên hiệu quả hơn, từ đó nảy sinh ở họ những nhận thức, thái độ, tình cảm, hành vi phù hợp, củng cé sự bền vững của hứng thú mới hình thành, dé từ chính việc học, người học tìm thấy được những sự hứng khởi mới.
Các nghiên cứu trong nước Tâm lý học Việt Nam ra đời muộn hơn so với Tâm lý học của các nước khác, do đó có cơ hội được thừa hưởng thành quả từ những nghiên cứu kinh điển của các nhà Tâm lý học lỗi lạc trên toàn thế giới, tuy nhiên cũng là một thử thách với các nhà Tâm lý Việt Nam: phải tìm ra được những khía cạnh nghiên cứu mới, nội dung nghiên cứu mới và phải làm thế nào để ứng dụng những kiến thức tâm lý đó vào thực tiễn cuộc sống xã hội. Rất nhiều vấn dé, nội dung đã được dé xuất, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành. Đã có không ít những nghiên cứu đi sâu tìm hiểu riêng về lĩnh vực hứng thú, trong đó tập trung nhiều nhất là nghiên cứu về hứng thú học tập. Ngay từ những năm 70, Ban Tâm lý học thuộc Viện Khoa học giáo dục tiến hành đợt nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của học sinh trường Phổ thông cấp II Bắc Lý, Hà Nam.
Từ kết quả của các thực nghiệm đã chứng minh quy luật tâm lý lứa tuổi: tuổi càng lớn, hứng thú càng phân hóa, tập trung, có chọn lọc hơn. Ban nghiên cứu đã đề xuất cho nhà trường Bắc Lý một số khuyến nghị như: nhà trường cần giáo dục hứng thú của học sinh có nội dung phong phú, hướng quá trình hứng thú đáp ứng được yêu cầu của xã hội, làm cho hứng thú ấy biến thành động cơ và nội dung của những thiên tài, nhân tài, năng lực về nhiều mặt.