CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo Luật các tổ chức tín dụng (Luật số: 47/2010/QH12) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (Luật số: 17/2017/QH14): “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, chủ thể tham gia quan hệ dân sự chỉ bao gồm pháp nhân, cá nhân. Theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN (khoản 3 Điều 2) quy định khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng (TCTD) là pháp nhân, cá nhân.
Như vậy, các tổ chức không phải là pháp nhân (ví dụ như hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân) không đủ tư cách chủ thể vay vốn tại TCTD. Trường hợp vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, khách hàng vay là cá nhân có thể vay để đáp ứng nhu cầu vốn của chính cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Như vậy, có thể kết luận: Hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân là hoạt động cho vay mà trong đó ngân hàng chuyển quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định cho khách hàng là cá nhân nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi 7 1. Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Khách hàng cá nhân là cụm từ được dùng để chỉ cá nhân một người hay một nhóm người có nhu cầu, muốn sử dụng hoặc đang sử dụng các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
Việc sử dụng các dịch vụ và những sản phẩm đó sẽ được dùng cho mục đích cá nhân hoặc mục đích chung cho gia đình khách hàng. Khách hàng cá nhân gồm có 3 đặc điểm chính: Khách hàng cá nhân sẽ có quy mô lớn và thường xuyên có xu hướng gia tăng quy mô; Các khách hàng cá nhân khác nhau về tuổi tác, giới tính, mức thu nhập, trình độ văn hóa và sở thích. Nhờ điều này mà nhu cầu sử dụng sản phẩm trở nên đa dạng, phong phú hơn; Khách hàng cá nhân thường xuyên thay đổi và gia tăng nhu cầu. Từ những đặc điểm về khách hàng kể trên, hoạt động cho vay KHCN sẽ có những đặc điểm như sau: − Quy mô từng món nhỏ nhưng số lượng khách hàng vay lớn: Cho vay khách hàng cá nhân là các khoản vay cho khách hàng cá nhân nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn khi mua sắm nhà cửa, phương tiện…hoặc nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hộ gia đình.
Đồng thời, đại đa số các khoản vay cá nhân thì khách hàng phải có một phần vốn tự có trước khi nhận phần vốn vay của Ngân hàng. Vì vậy nên giá trị các khoản vay sẽ nhỏ. Ngoài ra, đối tượng có nhu cầu vay cá nhân là mọi tầng lớp cư dân trong xã hội nên số lương khách là rất lớn. − Cho vay khách hàng cá nhân có tính nhạy cảm theo chu kỳ: Khi nền kinh tế rộng mở, mức sống người dân cao, nhu cầu mua sắm cũng nhiều hơn nhu cầu vay cũng theo đó mà tăng lên.
Ngược lại, khi nền kinh tế trì trệ, suy thoái, người dân cảm thấy không nên chi tiêu nhiều mà cần phải tích lũy cho tương lai-> Nhu cầu vay theo đó cũng giảm xuống 8 − Khách hàng cá nhân kém nhạy cảm với lãi suất: Các khoản vay cá nhân thường có lãi suất cố định hoặc thả nổi trong biên độ hẹp. − Chất lượng thông tin khách hàng cung cấp không cao: Đối với các khoản vay cá nhân, thì Ngân hàng chủ yếu dựa vào thông tin khách hàng cung cấp để cho vay. Thông tin khách hàng đưa ra có thể không chính xác tuyệt đối, có lợi cho khách hàng mà cán bộ ngân hàng không kiểm chứng được. − Lãi suất cho vay khách hàng cá nhân lớn: Các ngân hàng phải bỏ ra nhiều chi phí cho một khoản vay, do đó lãi suất các khoản vay cá nhân thường cao hơn so với các khoản vay doanh nghiệp.
− Cho vay cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, rủi ro cao hơn các hình thức tín dụng khác. Các yếu tố khách quan như: tình hình sức khỏe, công việc, thiên tai, chu kỳ kinh tế. và yếu tố chủ quan là do chính người vay không có thiện chí trả nợ đều khiến ngân hàng đối mặt với rủi ro. − Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có mối quan hệ mật thiết với nhu cầu vay: Thu nhập và trình độ học vấn càng cao thì càng có cơ hội để cho vay khách hàng cá nhân phát triển, căn cứ vào hai yếu tố này, các Ngân hàng cũng sẽ dễ dàng đưa ra quyết định cho vay hơn.
− Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định, song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Một khách hàng được đánh giá là có tư cách tốt có nghĩa là khách hàng luôn có thiện chí trả nợ, giảm được rủi ro tín dung cho ngân hàng. Phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân sẽ được chia thành 2 lĩnh vực: Hoạt động cho vay tiêu dùng và hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh. Cho vay tiêu dùng a.
Theo mục đích vay Hiện nay, hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân 9 hàng nước ngoài đối với khách hàng được quy định bởi Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Theo đó, có ít nhất 5 điều quy định trực tiếp trong Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có điều chỉnh và đưa mục đích vay vốn thành một điều kiện, đối tượng trong nội dung quy định mà các ngân hàng buộc phải tuân thủ. Mục đích vay vốn là bắt buộc phải xác định trong việc cho vay. Nếu không xác định được mục đích vay vốn thì có nghĩa là không phải hoạt động cho vay.
Căn cứ theo mục đích vay vốn, khoản cho vay KHCN với mục đích tiêu dùng có thể được chia thành 02 nhóm: − Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc/và cải tạo nhà cho khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình. − Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí như chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí cho học hành, giải trí, du lịch… b. Theo phương thức hoàn trả Phương thức hoàn trả là cách thức người vay hoàn trả lại phần vốn vay bao gồm gốc và lãi cho ngân hàng. Căn cứ theo phương thức hoàn trả, khoản cho vay KHCN với mục đích tiêu dùng có thể chia thành: − Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay.
− Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Đây là hình thức cho vay mà tiền vay được khách hàng thanh toán chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản vay tiêu dùng phi trả góp được cấp cho các khoản vay nhỏ và thời hạn vay không dài. 10 − Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc cho phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo nguồn gốc của khoản nợ Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
Thông thường CVTD gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau : Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp (1) NGÂN HÀNG (4) NGƯỜI BÁN (5) (6) (2) (3) NGƯỜI TIÊU DÙNG Nguồn: GS. Nguyễn Văn Tiến (2014), Tín dụng ngân hàng (1): Ngân hàng và người bán ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu (2): Người bán và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản (3): Người bán giao tài sản cho người tiêu dùng (4): Người bán chuyển giao bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng (5): Ngân hàng thanh toán tiền cho người bán (6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng Ưu điểm của CVTD gián tiếp: 11 − Giúp ngân hàng dễ dàng tăng doanh số và mở rộng quy mô; − Tiết kiệm và giảm được các chi phí; − Là cơ hội để ngân hàng mở rộng mối quan hệ với khách hàng − An toàn hơn cho vay trực tiếp nếu ngân hàng có quan hệ tốt với các đại lý/công ty bán lẻ đóng vai trò là người bán Nhược điểm của CVTD gián tiếp: − Ngân hàng không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng mà phụ thuộc vào đại lý/công ty bán hàng.
− Quy trình nghiệp vụ hình thức cho vay gián tiếp tương đối phức tạp. Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ những người này. CVTD trực tiếp có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1.2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp (3) NGÂN HÀNG NGƯỜI BÁN (1) (5) (2) (4) NGƯỜI TIÊU DÙNG Nguồn: GS. Nguyễn Văn Tiến (2014), Tín dụng ngân hàng (1): Người tiêu dùng và ngân hàng ký kết hợp đồng vay (2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ (3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ (4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng (5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng 12 Ưu điểm của CVTD trực tiếp: − Ngân hàng dựa vào kiến thức kinh nghiệm của cán bộ tín dụng để thẩm định khoản vay và khách hàng.