CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THONG BAO TRA CO TỨC VÀ BIEN DONG GIA CO PHIẾU 1. Tổng quan tài liệu 1. Tổng quan tài liệu nước ngoài Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa chính sách cô tức và biến động giá cổ phiếu của các công ty. Tuy nhiên các kết quả không giống nhau giữa các bài nghiên cứu: Nghiên cứu tiên phong về chính sách cô tức là của Litner năm 1956, công bố nghiên cứu khảo sát về quan điểm của các nhà quản lý doanh nghiệp.
Litner đã thực hiện cuộc phỏng vấn với các nhà quản lý doanh nghiệp về chính sách cổ tức của công ty họ. Sau đó Litner đã tạo ra một mô hình dựa trên 4 kết luận sau: - Công ty có mục tiêu chi trả cô tức trong dài hạn. - Nhà quản trị chú ý nhiều đến những thay đổi trong chính sách cổ tức hơn là thay đổi trong giá trị cổ phiếu - Những thay đồi trong cô tức phụ thuộc vào thu nhập dài hạn và bền vững. Xu hướng nay ám chi rằng nhà quan trị thường thích chính sách cổ tức “dé chịu” nhằm tạo cảm giác rằng những thay đổi nhất thời trong thu nhập sẽ không tác động đến việc chi trả cé tức trong ngắn hạn.
- Các nhà quản lý phải miễn cưỡng thay đổi chính sách cổ tức. Họ thường quan tâm đến việc phải huỷ bỏ một chính sách cô tức cao. Theo Litner, nhà quản lý miễn cưỡng khi phải cắt giảm cổ tức vì các nhà quản ly cũng nhận thức được việc cắt giảm cé tức cao là điều không mong muốn, vi thé cho dù trong ngắn hạn thu nhập của công ty có thể tăng cao nhưng các công ty lại cho tăng cổ tức từ từ dé đạt tới một tỷ lệ cé tức mục tiêu nhằm tránh những thay đôi đột biến trong cô tức do thu nhập tăng nhưng không bền vững. Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng ban quản lý là người năm rõ thông tin hơn nhà đầu tư bên ngoài.
Như vậy, do bất cân xứng thông tin nên nhà quản lý có những thông tin mà nhà đầu tư không có, kết quả là bất cứ hành động nào của doanh nghiệp bao gồm cả cách thức huy động vốn hay phân chia lợi nhuận đều có thể mang một hàm ý nào đó với nhà đầu tư bên ngoài. Thêm vào đó, nhà đầu tư thích một sự gia tăng trong cô tức, đó là tin tốt, nêu doanh nghiệp cắt giảm cô tức thì có thể khiến nhà đầu tư lo lắng về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể nghĩ rằng doanh nghiệp đang phải đối mặt với những khó khăn về tài chính. Trong khi đó, nhà quản lý có xu hướng muốn duy trì một chính sách cô tức 6n định nhằm phản ánh triển vọng tăng trưởng 6n định của công ty dù là trong lúc kết qua hoạt động kinh doanh tăng hay giảm. Theo cách hiểu này, cô đông cho rằng nếu cô tức gia tăng thi đồng nghĩa: cỗ tức cao sẽ được duy trì trong dài hạn, và chính sách cổ tức cao sẽ gây áp lực lên ban quản trị doanh nghiệp làm thế nào dé doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn nhằm duy trì chính sách cổ tức ổn định của mình.
Khi đó nhà đầu tư sẽ đánh đồng việc cô tức tăng với việc thu nhập trong tương lai của công ty gia tăng như một điều chắc chắn, kết quả là sự gia tăng trong giá cô phiếu của doanh nghiệp. Trong trường hợp ngược lại, khi có thông báo về việc cắt giảm cô tức thì nhà đầu tư cũng ngầm hiểu rằng thu nhập của họ không được đảm bảo và răng họ không nên nắm giữ cô phiếu này. Tương tự như vậy nhà đầu tư cũng phản ứng với trường hợp công ty mua lại cô phần. Việc công ty mua lại cổ phần có thé hàm ý là cổ phần đang được định giá thấp hơn giá trị của nó, ngược lại việc phát hành cổ phan có thé được hCiéu là giá cô phần này đang được định giá cao.
Từ những kết luận này hàm ý rằng việc chi trả cô tức hay quyết định chi trả cổ tức của doanh nghiệp đều xuất phát từ việc bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư. Nhà đầu tư có thé diễn giải theo cách riêng của họ, nhưng chính điều này đã ảnh hưởng đến giá cô phiếu của doanh nghiệp. Theo Baskin (1989) trong nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 2344 công ty Mỹ trên Compustat trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1986 dé kiểm tra mối quan hệ giữa chính sách cô tức và biến động giá cô phiếu. Trong số 2344 công ty có 183 thuộc ngành khai thác dầu mỏ, 1074 thuộc ngành công nghiệp, 330 thuộc ngành đường sắt hoặc công ích, 338 tổ chức tài chính, 230 các doanh nghiệp buôn bán lẻ và 139 là các công ty dịch vụ hoặc bệnh viện.
Ông đã thêm một số biến kiểm soát: biến động lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy nợ và tăng trưởng của tổng tài sản dé kiểm tra mối quan hệ giữa chính sách cô tức và biến động giá cô phiếu. Kết quả cho thấy có mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê giữa tỷ suất cô tức và biến động giá cô phiếu, khi tỷ suất tăng 1% thì giá cổ phiếu sẽ giảm 2. Day là một nghiên cứu thực nghiệm, nhà đầu tư có thể sử dụng chính sách cô tức để dự đoán biến động của giá cô phiếu và rủi ro cho nha đầu tư, mặt khác, biến động giá cô phiếu có thể kiểm soát bởi chính sách cô tức Còn Allen và Rachim (1996) trong nghiên cứu đã kiểm tra mối quan hệ giữa chính sách cô tức và biến động giá cô phiếu trên thị trường chứng khoán Uc. Họ đã chọn 173 công ty niêm yết trong giai đoạn từ 1972-1985.
Những công ty này có từ 24 nhóm ngành công nghiệp được chia thành 5 nhóm để đáp ứng cho nhu cầu phân tích. Giá cô phiếu đã được điều chỉnh cho chia tách cô phiếu hoặc phát hành cô phiếu. Nhóm tác giả sử dung mô hình hồi quy đa biến OLS để làm phân tích thực nghiệm. Biến động giá cô phiếu là biến phụ thuộc, tỷ suất cô tức và ty lệ chi trả cô tức là hai biến độc lập.
Ngoài ra, có thêm 4 biến kiểm soát: quy mô doanh nghiệp, đòn bay nợ, biến động thu nhập và tăng trưởng tài sản. Dé loại bỏ ảnh hưởng của mô hình ngành công nghiệp rộng lớn, bốn biến giả đại diện cho bốn nhóm ngành công nghiệp đã được thêm vào phương trình hồi quy. Kết quả từ nghiên cứu cho thay rằng có mối tương quan âm giữa việc chi trả cô tức và sự biến động giá cổ phiếu. Trái ngược với kết quả của Baskin (1989), mối tương quan giữa tỷ suất cô tức và biến động giá cô phiếu rất thấp.
Tỷ suất cô tức được giảm từ phương trình hỗồi quy sau đó là vì đa cộng tuyến. Đối với các biến kiểm soát khác: biến động thu nhập và tỷ lệ nợ là hai yếu tố chính có thể xác định sự biến động giá cô phiếu. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, ảnh hưởng thời gian, hiệu ứng chênh lệch và tỷ lệ có hiệu lực trở lại là không rõ ràng; hiệu quả thông tin đã được hỗ trợ bởi các thử nghiệm. Hussainey và cộng sự, (2011) trong bài nghiên cứu đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách cô tức và biến động giá cô phiếu cho thị trường chứng khoán Vương Quốc Anh.
Vương quốc Anh là một quốc gia phát triển và do đó thị trường chứng khoán của nó cũng tương đối trưởng thành. Nghiên cứu này sử dụng mẫu gồm 132 công ty trong giai đoạn 10 năm từ 1998-2007 (các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính không có trong dit liệu). Với mô hình phân tích hồi quy đa biến OLS tương tự như Allen và Rachim, họ cũng đã tìm thấy mối tương quan âm đáng kể giữa tỷ lệ chi trả cổ tức. Ngoài ra, tỷ suất cổ tức và sự biến động giá cô phiếu cũng có mối tương quan âm.
Nhìn chung, nghiên cứu đưa ra kết luận rang, ty lệ chi trả cổ tức cao sẽ dẫn tới sự sụt giảm trong biến động của giá cô phiếu. Hơn nữa, quy mô doanh nghiệp có mối tương quan âm đến biến động giá cô phiếu. Điều này được hiểu rằng các công ty lớn có khả năng đương đầu với rủi ro hơn, do đó làm cho giá cô phiếu ồn định hon. Don bay nợ có mối tương quan dương với biến động giá cô phiếu, các doanh nghiệp có nợ nhiều hơn phải gặp nhiều rủi ro hơn và do đó có giá cô phiếu biến động hơn.
Thông qua nghiên cứu này, các nhà quản lý và các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về thị trường chứng khoán Anh và có thê có các biện pháp khác nhau dé điều chỉnh danh mục đầu tư của họ dé làm cho biến động giá cô phiếu ồn định hơn. Khi cả quan lý và nhà dau tư lo ngại về sự biến động của giá cô phiếu, nghiên cứu này đã cung cấp một hướng đi mới để khám phá mối quan hệ giữa giá cô phiếu và các yếu tô quan trọng từ đó giúp các nhà đầu tư xem xét trước khi đưa ra quyết định đầu tư, các nhà quản lý xây dựng chính sách cé tức phù hop cho công ty của họ. Nghiên cứu này cũng thảo luận về một số lý thuyết về chính sách cô tức, yêu tố quyết định chính sách cé tức cũng như các lý thuyết về rủi ro và cổ tức Yasir và cộng sự (2012) trong bài nghiên cứu với mục tiêu chính là kiểm tra mối liên hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu ở Pakistan. Nghiên cứu nay cho thấy rang chính sách cô tức có ảnh hưởng biến động giá cổ phiếu ở Pakistan và nghiên cứu này cũng nhận thấy rằng thuyết tín hiệu cũng có liên quan trong việc xác định biến động giá cô phiếu.
Một số biến kiểm soát đã được đưa vào mô hình như tỷ lệ thanh toán, quy mô, nợ và tăng trưởng tải sản được sử dụng trong mô hình. Phân tích hồi quy chéo được sử dụng để đo lường giá cô phiếu với các biến kiểm soát. Họ đã kết luận rằng sự biến động cô phiếu bị ảnh hưởng bởi các chính sách cô tức, như tỷ suất cổ tức là tương quan dương, tỷ lệ chi trả cô tức là tương quan âm. Quy mô công ty và nợ có mối tương quan âm với giá cô phiếu biến động.