phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Khái lƣợc về cảm hứng chủ đạo và ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Chƣơng 2. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Việt thuộc chƣơng trình trung học phổ thông Chƣơng 3. Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Việt thuộc chƣơng trình trung học phổ thông với sự thể hiện cảm hứng chủ đạo e 9 Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ 1.Thơ và cảm hứng chủ đạo trong thơ 1.Về khái niệm cảm hứng chủ đạo trong văn học Văn chƣơng là thứ bùa màu nhiệm và bí ẩn, có sức cuốn hút và mê đắm lòng ngƣời bởi nó là kết tinh của triệu vì tinh tú, của vạn giọt nƣớc trong, của nghìn viên ngọc giữa lòng cuộc sống.
Thiên chức của văn chƣơng là khơi nguồn cho cái đẹp tràn vào trang viết. Bởi lẽ, từ cuộc sống đến văn học, cái đẹp vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng, chi phối cảm quan con ngƣời. Mặt khác, văn học là lĩnh vực của cái độc đáo, mỗi tác phẩm đích thực phải là những gì đƣợc xây dựng từ ngòi bút chân chính, mới lạ và đầy sáng tạo. Ngoài vốn sống, những trải nghiệm phong phú trƣớc cuộc đời, và một năng khiếu bẩm sinh thì đòi hỏi nhà văn còn phải có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế.
Và để có đƣợc sản phẩm tinh thần đặc biệt ấy, chắc chắn các nhà văn đã phải trải qua là rất nhiều suy tƣ, trăn trở. Khi những “đứa con tinh thần” ra đời sẽ đánh dấu cho cả chặng đƣờng dày công khổ luyện, và chứa đựng tất cả tâm huyết, lòng nhiệt thành và tài năng của ngƣời cầm bút. Tác phẩm văn chƣơng là sản phẩm tinh thần đặc biệt của nhà văn. Cùng với giá trị nghệ thuật độc đáo, thì nội dung tƣ tƣởng sâu sắc là yêu cầu không thể thiếu đƣợc của tác phẩm.
Nội dung tƣ tƣởng ấy đƣợc biểu hiện cụ thể trong tác phẩm qua sự lý giải chủ đề, cảm hứng tƣ tƣởng, tình điệu thẩm mỹ. Tƣ tƣởng của tác phẩm bao gồm khuynh hƣớng triết học, chính trị, đạo đức, khuynh hƣớng nhận thức, khuynh hƣớng tình cảm, thẩm mỹ thể hiện trong tác phẩm. Tƣ tƣởng của tác phẩm có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về thế giới, với quan niệm về nhân sinh, với tình cảm và thái độ của nhà văn. Tƣ tƣởng e 10 của nhà văn sẽ chi phối sự đánh giá các hiện tƣợng đời sống trong tác phẩm.
Xuất phát từ đặc điểm này, nghiên cứu văn học đã hình thành khái niệm cảm hứng chủ đạo với tƣ cách là nhân tố tƣ tƣởng trong sáng tạo nghệ thuật. Trong luận văn của mình, chúng tôi muốn nhìn nhận các sáng tác của các nhà thơ từ góc độ bao quát nhất là cảm hứng chủ đạo. Ấn tƣợng của ngƣời đọc đối với một tác phẩm văn học bao giờ cũng bắt đầu từ cảm hứng chủ đạo. Trong đó, cảm hứng đƣợc xem là một trạng thái tâm hồn đặc biệt thuộc về ngƣời nghệ sĩ, đó là trạng thái căng thẳng nhƣng say mê khác thƣờng và muốn làm ngay một việc khác thƣờng.
Quá trình sáng tạo của nhà văn bắt đầu từ khi nảy sinh những dự tính rồi sau đó là quá trình nảy sinh những quan niệm mang tƣ tƣởng sáng tạo của tác phẩm văn học, những tƣ tƣởng ấy thƣờng gắn liền với sự thụ cảm của nhà văn với cuộc sống dƣới hình thức cảm xúc. Đã có rất nhiều nhận định khác nhau về cảm hứng và cảm hứng chủ đạo. Chẳng hạn, Hêghen và Biêlinxky đều dùng từ “cảm hứng” để chỉ trạng thái “hƣng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh đƣợc bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tƣởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại”[57, tr.
Còn Khrapchenkô với quan niệm tác phẩm văn học gắn liền với sự cảm nhận của nhà văn về cuộc sống dƣới hình thức cảm xúc, đã cho rằng: “Sự dồi dào về cảm xúc của tác phẩm nghệ thuật là một đặc điểm hữu cơ của tái tạo hiện thực bằng hình tƣợng, là một đặc điểm của sự thể hiện những tƣ tƣởng sáng tạo, sự phát triển của các tính cách”[31, tr. Cảm hứng không phải tự nhiên mà có ở mỗi ngƣời mà chính yếu vẫn là sự rèn luyện tƣ duy của mỗi ngƣời. Đối với nhà văn đây là điều mấu chốt, quan trọng hơn cả. Đối với các nhà văn thì những ý tƣởng luôn nằm sẵn trong đầu, khi gặp thời điểm thích hợp thì nó có khả năng bùng phát mạnh mẽ, e 11 chính lúc đó họ tìm thấy cảm hứng cho mình.
Cảm hứng sáng tạo ở nhà văn không đơn giản chỉ là phút say mê bất chợt. Cảm hứng sáng tạo cần đƣợc hiểu “là một trạng thái lao động nghiêm túc của con ngƣời. Sự cao hứng trong tâm hồn không biểu hiện ở điệu bộ phƣờng tuồng và trong sự bốc đồng” [56, tr. Từ đó ta thấy rằng cảm hứng buộc ngƣời nghệ sĩ vào trạng thái lao động nghiêm túc, cẩn trọng bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi.
Cảm hứng ở đây đƣợc xem là nhân tố khơi nguồn cho mọi sự thăng hoa trong sáng tạo nghệ thuật, hay khác hơn nó là động lực để làm nên giá trị của tác phẩm. Theo Pôxpêlốp thì cảm hứng là “sự lý giải, đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với tính cách đƣợc miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy, là cảm hứng tƣ tƣởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [57, tr. Còn về cảm hứng chủ đạo, theo Biêlinxky “đó là sự thâm nhập say mê và sự ham thích một tƣ tƣởng nào đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết quả của cảm hứng chủ đạo, phải thấm đƣợm nó. Thiếu cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu đƣợc là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức lực và khả năng để khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ” [3, tr.
Ở một chỗ khác, ông khẳng định: “Sáng tác, đó không phải là trò đùa, và tác phẩm nghệ thuật không phải là sản phẩm của nhàn hạ hay tùy hứng, nó đòi hỏi lao động của nghệ sĩ. cảm hứng là sức mạnh hùng hậu. Trong cảm hứng nhà thơ là ngƣời yêu say tƣ tƣởng, nhƣ yêu cái đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí, lý tính, không phải bằng tình cảm hay một năng lực nào đó của tâm hồn, mà là bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tồn tại tinh thần của mình và do đó tƣ tƣởng xuất hiện trong tác phẩm không phải là những suy nghĩ trừu tƣợng, không phải là hình thức chết cứng, mà là một sáng tạo sống động” [4, tr. Ở Việt Nam, các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã đƣa ra khái e 12 niệm về cảm hứng chủ đạo nhƣ sau: “Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn với một tƣ tƣởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những ngƣời tiếp nhận tác phẩm” [20, tr.
Nhìn chung, lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là “một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tƣ tƣởng và xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới đƣợc mô tả” [44, tr. Nhƣ vậy, ta có thể khẳng định cảm hứng chủ đạo đƣợc xem là trung tâm của tác phẩm nghệ thuật. Cảm hứng chủ đạo không chỉ toát ra từ tác phẩm mà còn xuyên suốt toàn bộ sáng tác của một tác giả. Những cảm hứng ấy, có thể là cảm hứng yêu nƣớc, cảm hứng nhân đạo, cảm hứng thế sự, cảm hứng lãng mạn…Nói đến những cảm hứng ấy chính là nói đến những tình cảm mang ý tƣởng lớn chi phối sự đánh giá trong tác phẩm.
Những tƣ tƣởng tầm thƣờng, giả tạo sẽ không thể mang lại niềm say mê cho ngƣời tiếp nhận, bởi cảm hứng chủ đạo nhƣ dòng mạch ngầm tƣ tƣởng của tác phẩm, là yếu tố làm chi phối, khuấy động không khí xúc cảm của cá nhân ngƣời sáng tác lẫn đối tƣợng tiếp nhận thành quả sáng tạo. Hay nói cách khác, đó là những rung động trong tâm hồn nhà văn chi phối sự thống nhất của cảm xúc hiện tƣợng và hệ thống biểu cảm nghệ thuật của tác phẩm. Xem xét cảm hứng chủ đạo của một tác phẩm ta phải có cái nhìn từ nhiều bình diện. Cảm hứng chủ đạo với cái nhìn dƣới tƣ cách là tác giả đối với hiện thực đƣợc miêu tả, giúp ta có thể cắt nghĩa đƣợc sự vận động của một số yếu tố nội dung, hình thức trong chỉnh thể tác phẩm.
Nếu đặt cảm hứng chủ đạo với cái nhìn dƣới tƣ cách là yếu tố bản thân nội dung tác phẩm, sẽ giúp ta chỉ ra đƣợc mạch cảm xúc tuôn chảy trong tác phẩm, cũng nhƣ lí giải đƣợc phần nào sức hấp dẫn, sức sống của tác phẩm với công chúng, độ bền bỉ của tác phẩm với thời gian. Cùng nói về cảm hứng lãng mạn nhƣng ở mỗi giai đoạn và những hoàn cảnh khác nhau lại mang những sắc thái khác nhau. Trong văn học 1932– 1945, cảm hứng e 13 lãng mạn là vƣợt lên trên thực tế, thoát li hiện thực, đề cao tuyệt đối cái “Tôi” (thơ Mới), là niềm tin vào một xã hội lí tƣởng (truyện lãng mạn) - có tính chất tiêu cực. Trong văn học 1945 – 1975, cảm hứng lãng mạn là cảm hứng khẳng định cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và vƣợt lên hiện thực, hƣớng tới lí tƣởng với niềm tin sắt đá - có tính chất tích cực.
Cụ thể là: Khẳng định phƣơng diện lý tƣởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con ngƣời mới; ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng; tin tƣởng vào chiến thắng, vào tƣơng lai tƣơi sáng của dân tộc. Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ con ngƣời Việt Nam có thể vƣợt lên mọi thử thách, trong máu lửa của chiến tranh đã hƣớng tới ngày chiến thắng, trong gian khổ cơ cực đã nghĩ tới ngày ấm no hạnh phúc. Cảm hứng lãng mạn trở thành cảm hứng chủ đạo thể hiện trong nhiều thể loại văn học (thơ, truyện,. Hay khi nói về cảm hứng chủ đạo của văn học hiện thực 1930 – 1945 cũng có thể thấy rằng nó khá đa dạng.
Với Nguyễn Công Hoan, cảm hứng ấy là sự phê phán kịch liệt xã hội thực dân phong kiến đƣơng thời với những sản phẩm thối nát của nó.