Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, bố cục bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết về vốn luân chuyển và mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và lợi nhuận 2.1 Vốn luân chuyển Vốn luân chuyển (Working Capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt.
Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính. Nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển là yếu tố thúc đẩy sự chuyển hoá nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài sản lưu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ. Chính sách vốn luân chuyển hiệu quả phải đảm bảo giảm tối thiểu thời gian từ khi trả tiền mua nguyên vật liệu đến khi thu tiền bán tín dụng. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt bao gồm khoảng thời gian từ khi công ty thanh toán các khoản nợ đến khi thu tiền mặt.
Trong khoảng thời gian đó, có các yếu tố sau đây: - Chu kỳ chuyển hoá tồn kho: là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hoá nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng. Chi tiết ra, khoảng thời gian này gồm thời gian bình quân nguyên vật liệu ở trong kho, toàn bộ thời gian chu kỳ sản xuất, thời gian bình quân sản phẩm tồn kho. - Kỳ thu tiền bình quân: là khoảng thời gian để chuyển khoản phải thu thành tiền mặt, nghĩa là thời gian cần thiết để thu tiền từ khách hàng kể từ thời điểm ghi hóa đơn. Bạn có thể ước lượng được kỳ thu tiền bình quân, hay còn gọi là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số ngày bán hàng.
Bạn cũng có thể tính bằng cách chia khoản phải thu cho doanh số bán tín dụng bình quân mỗi ngày. - Kỳ thanh toán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu hay thuê lao động đến khi thanh toán cho họ. - Chu kỳ chuyển luân chuyển tiền mặt: bằng tổng thời gian từ khi chi tiền mặt đến khi nhận tiền mặt. Kỳ chuyển hoá tiền mặt vì vậy bằng khoảng thời gian bình quân đồng vốn được duy trì dưới hình thức tài sản lưu động.
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt có thể được biểu diễn trong phương trình sau: CCC = AR + INV -AP Vai trò của vốn luân chuyển là đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, do đó có tác động rất lớn đến việc ra các quyết định tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đƣợc thể hiện bằng tỷ suất sinh lợi. Tỷ suất sinh lợi được xem xét có thể là tỷ suất sinh lợi trên tài sản. Các yếu tố tác động tới tỷ suất sinh lợi là doanh thu, chi phí, thuế, tổng tài sản…Tỷ suất sinh lợi được đánh giá trong một năm nhưng lại là thành quả kinh doanh trong dài hạn của công ty. Ở Việt Nam, tỷ trọng vốn luân chuyển nằm trong khoảng 49% đến 58% tổng tài sản, vì vậy các thành phần của vốn luân chuyển có tác động rất lớn đến tỷ suất sinh lợi, đặc biệt là hàng tồn kho, khoản phải thu và khoản phải trả.2 Quản trị khoản phải thu và lợi nhuận Khoản phải thu được xem như là các khoản tiền cho khách hàng vay trong ngắn hạn.
Tài khoản này nên được giữ ổn định, tuy nhiên nếu khoản phải thu đang gia tăng có nghĩa là công ty đang mở rộng chính sách bán chịu, đồng nghĩa với việc công ty có thêm khách hàng nhưng cũng sẽ gánh chịu nhiều chi phí như là chi phí cơ hội của dòng tiền đáng lẽ phải nhận được. Từ đây chúng ta có thể thấy quản trị khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Gia tăng khoản phải thu, doanh thu có thể tăng do bán được nhiều hàng hóa hơn, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuy nhiên có thể gặp phải rủi ro nguy cơ phát sinh nợ khó đòi,thậm chí không thu hồi được nợ để đảm bảo cho nhu cầu tài chính đã dự tính. Tuy nhiên, nếu thắt chặt tín dụng, thì công ty có thể mất khách hàng do chính sách bán chịu quá khắt khe từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty.
Theo Berry và Jarvis (2006), một công ty nên thiết lập chính sách khoản phải thu tối ưu dựa trên những nguyên tắc sau: - Sự đánh đổi giữa tính ổn định của doanh thu và lợi nhuận với chi phí cơ hội và chi phí quản lí khi gia tăng khoản phải thu. - Mức độ rủi ro của công ty có thể lớn hơn khi gia tăng khoản phải thu, vì khách hàng có thể không trả nợ khi các khoản phải thu đến hạn.3 Quản trị hàng tồn kho và lợi nhuận Hàng tồn kho bao gồm tất cả nguyên vật liệu và thành phẩm đang nằm trong kho của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có chu kì hàng tồn kho dài có nghĩa rằng doanh nghiệp đang đầu tư rất lớn vào hàng tồn kho và hy vọng trong tương lai nguồn cầu đối với hàng hóa của mình sẽ gia tăng, làm gia tăng doanh số, lợi nhuận. Tuy nhiên, việc đầu tư rất lớn vào hàng tồn kho sẽ khiến công ty phải gánh chịu rất nhiều rủi ro như sản phẩm hư hỏng, mất mát, lỗi thời và nhiều chi phí như: chi phí lưu trữ, phí bảo hiểm.
Ngược lại, dự trữ hàng tồn kho quá ít có thể làm tăng rủi ro mất khách hàng khi họ phát sinh nhu cầu mà công ty không đủ hàng để cung cấp, lúc này khách hàng sẽ tìm đến những đối thủ cạnh tranh của công ty. Do đó các nhà quản trị phải cân nhắc giữa lợi ích nhận được và chi phí cho việc dự trữ hàng tồn kho vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Quản trị khoản phải trả và lợi nhuận Ngược lại với khoản phải thu, khoản phải trả lại là một nguồn vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp. Theo Hampton và Wagner (1989), công ty có khoản phải trả khi công ty mua hàng hóa và thỏa thuận với nhà cung cấp trả tiền trong một kì hạn nào đó, nghĩa vụ phải trả tiền được ghi nhận trong tài khoản khoản phải trả cho đến khi công ty trả tiền cho nhà cung cấp.
Do đó, công ty có thể được lợi từ nguồn vốn chiếm dụng này. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn ít tốn kém chi phí sử dụng vốn. Việc doanh nghiệp kéo dài thời gian thanh toán sẽ làm giảm áp lực cho dòng tiền hoạt động. Tuy nhiên với việc kéo dài thời gian thanh toán, doanh nghiệp sẽ không được hưởng lợi ích từ những chính sách chiết khấu khi trả tiền ngay của nhà cung cấp.
Mặt khác, việc kéo dài chu kì khoản phải trả có thể làm mất đi danh tiếng của công ty và lợi nhuận của công ty trong dài hạn.5 Chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận Một trong những chỉ tiêu đo lường hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển là chu kỳ luân chuyển tiền mặt (Cash Conversion Cycle - CCC) được đưa ra bởi Richards & Laughlin (1980). Hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp (Filbeck, Krueger & Preece - 2007; Faulender & Wang - 2006): sự thiếu hụt vốn luân chuyển có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nhưng đầu tư quá nhiều vào vốn luân chuyển thì lại làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển. Nhìn chung, các công ty có chu kỳ luân chuyển tiền mặt ngắn hơn sẽ có lợi hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn trong thời gian dài (Mansoori vàMuhammad - 2012) thấp hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục tiêu của công ty là rút ngắn chu kỳ chuyển hoá tiền mặt đến mức tối đa nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của công ty.
Điều này sẽ làm tăng lợi nhuận vì nếu chu kỳ chuyển hóa tiền mặt càng dài, nhu cầu tài trợ từ bên ngoài càng lớn và việc tài trợ lúc đó càng làm tăng phí tổn vốn và do vậy, làm giảm giá trị kinh tế của công ty. Có thể rút ngắn chu kỳ chuyển hoá tiền mặt bằng cách: - Giảm chu kỳ chuyển hoá tồn kho bằng thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. - Giảm kỳ thu tiền bằng thúc đẩy chính sách bán hàng và thu nợ hợp lý. - Hay kéo dài thời gian thanh toán bằng trì hoãn thời gian thanh toán cho các nhà cung cấp.
Các công ty thực hiện các hoạt động này để rút ngắn chu kỳ chuyển hoá tiền mặt nếu chúng không làm tăng chi phí và cũng không làm giảm doanh số.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây Nhiều nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và lợi nhuận của công ty trong thị trường khác nhau. Có nhiều kết luận khác nhau, nhưng đa số các nghiên cứu kết luận có một mối quan hệ tiêu cực giữa vốn luân chuyển và lợi nhuận công ty. Các nghiên cứu đã sử dụng các biến khác nhau để phân tích mối quan hệ, với phương pháp khác nhau như hồi quy tuyến tính và hồi quy dữ liệu bảng. Trong phần này tác giả trình bày một vài kết luận từ kết quả các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả.
Soenen (1993) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ suất sinh lợi trên đầu tư ROI và tỷ suất sinh lợi trên tài sản ROA trong các công ty Mỹ. Các kết quả của nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa thời gian của chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA).