Mở đầu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5: Đánh giá kết quả nghiên cứu và gợi ý. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong chương này bao gồm các nội dung sau: 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 2.1 Tổng quan lý thuyết: 2.1 Định nghĩa vốn luân chuyển: Vốn luân chuyển là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn luân chuyển chuyển hoá qua tất cả các dạng tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt.2 Các thành phần của vốn luân chuyển: Tiền mặt và và các khoản tương đương tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kì hạn và các khoản tiền gửi, các chứng khoán đầu tư có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá ba tháng. Hàng tồn kho có thể gồm nguyên liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa (chờ bán và đang vận chuyển).
Khoản phải thu: Khi một công ty bán hàng cho một công ty khác thì thường không nhận tiền ngay, những hóa đơn chưa thanh toán này là tín dụng thương mại chiếm phần lớn khoản phải thu. Các công ty bán lẻ bán chịu hàng cho người tiêu dùng là tín dụng cho người tiêu dùng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Nợ ngắn hạn là các nghĩa vụ tài chính gắn liền với các khoản thanh toán mà theo đó công ty sử dụng nó để nắm giữ các tài sản ngắn hạn tương ứng. Nợ ngắn hạn có khoảng thời gian thanh toán mong đợi dưới một năm.
Nợ ngắn hạn có thể chia ra làm hai loại: Thứ nhất, nợ ngắn hạn phát sinh từ các hoạt động tài trợ bao gồm các khoản vay mượn ngắn hạn và nợ dài hạn đến hạn trả. Thứ hai, nợ ngắn hạn phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: Thuế phải trả, chi phí phải trả, nhận ký quỹ ký cược ngắn hạn, khoản phải trả người bán.3 Tác động của quản lý vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn luân chuyển chuyển hoá qua tất cả các dạng tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động quản lý vốn luân chuyển chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản lý tài chính. Quản lý vốn luân chuyển với mu ̣c tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các công ty duy trì hoạt động kinh doanh mô ̣t cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vu ̣ tài chính trong ngắn hạn.
Hiệu quả của quản lý vốn luân chuyển phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiê ̣p (Filbeck, Krueger & Preece – 2007; Faulender & Wang - 2006): Sự thiếu hụt vốn luân chuyển có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiê ̣p. Đầu tư quá nhiều vào vốn luân chuyển một mặt làm giảm rủi ro thanh khoản, nhưng mặt khác sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi công ty dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển.1 So sánh sự khác nhau vốn luân chuyển theo ngành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Sản xuất Bán lẻ Dịch vụ Không hoặc rất Hàng tồn kho Cao Khá thấp thấp Phải thu khách hàng Cao Thấp Thấp Phải trả người bán Từ thấp đến trung bình Rất cao Thấp Kỳ lưu kho: Chỉ số này cho các nhà đầu tư biết về khoảng thời gian cần thiết để công ty có thể thanh lý được hết số lượng hàng tồn kho của mình (bao gồm cả hàng hoá còn đang trong quá trình sản xuất). Thông thường nếu chỉ số này ở mức thấp thì có nghĩa là tốc độ thu hồi vốn nhanh, do đó làm tăng khả năng thanh toán cho công ty. Kỳ lưu kho quan hệ ngược chiều với giá vốn hàng bán và quan hệ thuận chiều với hàng tồn kho.
Khi các công ty phải dự trữ hàng tồn kho không chỉ bao gồm chi phí tồn trữ và rủi ro hư hỏng hay lỗi thời mà còn phải kể đến chi phí cơ hội của vốn – tức là tỷ suất sinh lợi từ các cơ hội cơ hội đầu tư khác có mức rủi ro tương đương. Lợi ích của việc duy trì hàng tồn kho thường là gián tiếp. Thí dụ, một lượng lớn tồn kho thành phẩm (tương đối lớn so với doanh số dự kiến) làm giảm rủi ro do hết hàng nếu nhu cầu hàng tăng cao đột ngột. Một nhà sản xuất chỉ giữ một lượng hàng tồn kho nhỏ rất dễ bị thiếu hàng, không thể giao hàng đúng hẹn.
Tương tự, lượng tồn kho nguyên liệu lớn làm giảm nguy cơ thiếu hụt bất ngờ, giúp công ty khỏi phải cắt giảm sản xuất hay phải sử dụng nguyên liệu thay thế đắt hơn. Những đơn đặt hàng nguyên liệu lớn hơn sẽ đưa đến lượng tồn kho trung bình lớn hơn là việc nên làm nếu công ty có thể được nhà cung cấp dành cho giá rẻ hơn. Nhiệm vụ quản lý hàng tồn kho là đánh giá những lợi ích và phí tổn này và tìm ra mức tồn kho tối ưu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Kỳ thu tiền khách hàng cho biết công ty mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình.
Dựa vào kỳ thu tiền khách hàng có thể nhận ra chính sách bán trả chậm của công ty, chất lượng công tác theo dõi thu hồi nợ của công ty. Kỳ thu tiền khách hàng quan hệ ngược chiều với doanh thu và quan hệ thuận chiều với khoản phải thu. Yếu tố quyết định chủ yếu khoản phải thu là doanh thu. Mối liên hệ giữa khoản phải thu với doanh thu được quản lý bởi chính sách tín dụng và phương pháp thu tiền.
Thay đổi trong khoản phải thu phản ánh thay đổi trong doanh thu, nhưng không nhất thiết là thay đổi theo cùng tỷ lệ. Khi kỳ thu tiền khách hàng được so sánh với kỳ hạn trả chậm mà công ty quy định, chúng ta có thể đánh giá mức độ trả tiền đúng hạn của khách hàng. Ví dụ, nếu kỳ trả chậm thông thường là 40 ngày, kỳ thu tiền khách hàng là 75 ngày thì phản ảnh khả năng thu hồi kém hay khách hàng thanh toán chậm trễ hay khách hàng lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính. Kỳ trả nợ cho biết biết công ty mất bình quân là bao nhiêu ngày để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Kỳ trả nợ quan hệ ngược chiều với giá vốn hàng bán và quan hệ thuận chiều với khoản phải trả ngắn hạn. Số ngày hoàn trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công ty rất có uy tín và là khách hàng tốt của nhà cung cấp nên được cho trả chậm, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy công ty đang gặp khó khăn trả các khoản nợ đến hạn. Để khẳng định được khả năng thanh toán nợ của công ty cần phân tích chi tiết các khoản phải trả và tuổi nợ các khoản phải trả để có kết luận là do công ty được cho chậm trả hay do tình hình kinh doanh đi xuống công ty mất khả năng thanh toán các khoản nợ hay do công ty chiếm dụng vốn. Kỳ luân chuyển tiền = Kỳ lưu kho + Kỳ thu tiền khách hàng – Kỳ trả nợ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Kỳ luân chuyển tiền là thước đo để đánh giá khả năng quản lý dòng tiền của công ty và cũng là chỉ số về tính thanh khoản của công ty. Kỳ luân chuyển tiền càng dài thì lượng tiền mặt của công ty càng khan hiếm. Kỳ luân chuyển ngắn hơn có nghĩa là mất ít ngày hơn để chuyển đổi hàng tồn kho và khoản phải thu thành tiền mặt, đồng thời đảm bảo công ty sẽ thanh toán đúng hạn các khoản nợ để không phải chịu phạt. Kỳ luân chuyển tiền là đặc biệt quan trọng đối với các công ty có hàng tồn kho đáng kể và có khoản phải thu lớn, bởi vì nó làm nổi bật mức độ hiệu quả trong việc quản lý vốn luân chuyển của công ty.
Kỳ luân chuyển tiền rất hữu ích trong việc phân tích xu hướng các công ty trong cùng ngành. Nói chung, kỳ luân chuyển tiền ngắn hơn là tốt hơn vì nó cho thấy công ty bán hàng tồn kho, thu hồi tiền bán hàng nhanh hơn; mua hàng trả chậm hơn.4 Tác động của quy mô tài sản đến khả năng sinh lợi Quy mô ở đây căn cứ vào tổng tài sản của công ty có liên quan đến tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) được trình bày ở mục 2. Trong kinh tế học vi mô, thuật ngữ lợi thế nhờ quy mô được dùng để chỉ sản lượng càng lớn chi phí cho một đơn vị sản phẩm càng hạ. Trái ngược với thuật ngữ này là tính phi kinh tế theo quy mô.
Tính kinh tế nhờ quy mô là do chuyên môn hóa, phân công lao động làm cho trình độ tay nghề được nâng cao, năng suất lao động cao, chi phí lao động giảm. Khi vốn tăng, công ty có điều kiện trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại dẫn đến tiết kiệm nguyên liệu, ít sản phẩm hỏng, năng suất cao, giá thành hạ.5 Tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất sinh lợi Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi, vốn cổ phần thường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn giải thích vì sao các công ty thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các công ty không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế nhờ lãi vay, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ.
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng.