Chương 1 LƯ KHÊ – CUỘC ĐỜI VÀ VĂN NGHIỆP 1. Quê hương Lư Khê tên thật là Trương Văn Em, sinh ngày 20.1916 tại xã Thuận Yên, tỉnh Hà Tiên, nay là thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Tuy được “sinh sau đẻ muộn” nhưng vùng đất cực Tây Nam Tổ quốc này lại chứa đựng trong nó biết bao điều kỳ diệu. Hà Tiên ngày nay là một thị xã vùng biên xinh xắn, thơ mộng, hiền hòa.
Thế nhưng thuở xa xưa, đây là vùng đất vốn thuộc vương quốc Phù Nam, trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Hà Tiên trở thành phủ Sài Mạt của Chân Lạp. Từ giữa thế kỷ XVII, những lưu dân người Việt và người Hoa đã đến vùng này để sinh sống, tuy nhiên, công lao khai phá mảnh đất này thuộc về hai cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích. Mạc Cửu vì lánh nạn nhà Thanh mà chạy sang Sài Mạt, được vua Chân Lạp phong chức và cho cai quản vùng này, phát triển buôn bán làm cho mảnh đất mỗi ngày mỗi thêm trù phú. Đến năm 1708, Mạc Cửu thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu và từ đó vùng đất này thuộc về Việt Nam.
Địa danh Hà Tiên cũng chỉ xuất hiện từ năm 1708, trước đó, vùng đất này được biết đến với tên gọi Tà Ten. Tà có nghĩa là sông, theo cách gọi của người Khmer xưa và Ten là tên của con sông. Về sau này chữ Tà được đổi là Hà và Ten biến thành Tiên. Có thể nói lịch sử Hà Tiên là lịch sử của một vùng đất khẩn hoang, đồng thời, vì là vùng biên ải nên mảnh đất còn là lịch sử của những cơn binh biến dai dẳng trải nhiều thế kỷ.
Quá trình hình thành và phát triển độc đáo như vậy nên mảnh đất này đã làm nhiều người say mê với biết bao huyền thoại, từ 11 chuyện các nàng tiên xuất hiện trên sông Giang Thành, đào được hũ bạc đến bức tượng Phật và ánh sáng huyền bí ở đầm Trũng Kẽ báo hiệu sự ra đời của Mạc Thiên Tích (Hồ Sĩ Hiệp và Hoài Anh, 1990); từ truyền thuyết hòn Phụ Tử với hai cha con nhà chài lưới diệt thuồng luồng cứu dân lành để rồi khi chết hóa thành hai hòn đá trông về phía biển đến câu chuyện Thạch Sanh quen thuộc cũng được người dân nơi đây khẳng định là xuất phát từ vùng đất này với những chứng tích vẫn còn đến hôm nay như Thạch Động, Châu Nham. Không chỉ có thế, Hà Tiên còn là một dải đất với địa hình đa dạng như: vũng, vịnh, đồng bằng, đồi núi, sông rạch, hang động, hải đảo… Sự phong phú trong cảnh quan này đã được thi sĩ Đông Hồ đề cập đến trong quyển Văn học Hà Tiên: “Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi của Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích.
Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hoá. Có một ít Đồ Sơn Cửa Tùng, một ít Nha Trang Long Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ, ở đây cảnh nào cũng chỉ nhỏ nhắn xinh xinh, mà cảnh nào cũng có (…) Chính cũng nhờ những tính cách đặc thù đó của danh thắng, mà Hà Tiên là một miếng đất màu mỡ cho hạt giống văn chương, văn học dễ phát sinh.
Nét thơ mộng, cảnh sắc đa dạng của vùng đất phía Tây Nam này đã khiến Mạc Thiên Tích sáng tác Hà Tiên thập cảnh vịnh và Hà Tiên thập cảnh tổng vịnh. Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình Non non nước nước gẫm nên xinh Đông hồ Lộc trĩ luôn dòng chảy, Nam phố Lư khê một mạch xanh Tiêu tự Giang thành chuông trống ỏi, 12 Châu Nham Kim dữ cá chim quanh. Bình san Thạch động là rường cột, Sừng sựng muôn năm cũng để dành. (Trương Minh Đạt, 2017) Thế nhưng, Hà Tiên đâu chỉ có một lịch sử hình thành độc đáo, đâu chỉ có cảnh quan làm say lòng người, Hà Tiên còn được biết đến bởi đời sống văn chương vô cùng sôi động.
Văn học Hà Tiên đã bắt đầu và dần nổi tiếng với tao đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích sáng lập năm Bính Thìn 1736. Đây được xem là một thành tựu rực rỡ của Mạc Thiên Tích trong quá trình xây dựng và phát triển vùng đất Hà Tiên. “Chiêu Anh Các”, nghĩa là gác mời những người tài hoa đến để đàm đạo và xướng họa thơ văn, và quả thật, tao đàn Chiêu Anh Các đã quy tụ được hơn 37 người tham gia gồm cả người Việt và người Minh Hương (người Hoa nhập cư), họ không chỉ bàn luận chuyện văn chương mà còn truyền bá Nho học, đàm đạo thao lược. Đồng thời, Chiêu Anh Các còn là một nhà nghĩa học, dạy học trò không lấy học phí.
Đến nay, những tài liệu cũng như sáng tác của tao đàn Chiêu Anh Các đã thất lạc rất nhiều, hiện chỉ còn ba tập thơ: Hà Tiên thập vịnh gồm 320 bài thơ do Mạc Thiên Tích thủ xướng; Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh bằng thơ Nôm của Mạc Thiên Tích; Minh Bột di ngư thi thảo gồm thi và phú chữ Hán cũng của Mạc Thiên Tích. Những sáng tác này còn lưu giữ đến ngày nay cho thấy nội dung chủ yếu là ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp của vùng đất Hà Tiên. Năm 1771, Hà Tiên bị quân Xiêm đánh chiếm, Mạc Thiên Tích phải chạy về Gia Định, tao đàn Chiêu Anh Các cũng theo đó mà tan rã. Dù tồn tại trong một khoảng thời gian không dài nhưng “tao đàn Chiêu Anh Các là một hiện tượng văn hóa mới xuất hiện ở một vùng đất mới.
Xét trên phương diện nghệ thuật, những thành tựu của Tao đàn Chiêu Anh Các không mấy thua kém văn học Đàng Ngoài lúc ấy đang hồi phát triển rực rỡ nhất…” (Hà Thanh Vân, 13 1999). Có lẽ, về sau, việc Đông Hồ mở Trí Đức học xá cũng chính là sự nối tiếp con đường mà Mạc Thiên Tích đã khai phá, chứ không hẳn chỉ là học tập thi hào Ấn Độ Tagore với trường học Satiniketan (Xứ sở bình yên) như nhiều người vẫn nghĩ. Lư Khê đã được sinh ra và lớn lên trên một vùng thiên nhiên trù phú, phóng khoáng, thơ mộng đó. Mảnh đất này như một mạch ngầm nuôi dưỡng, hun đúc nên tâm hồn và văn chương Lư Khê.
Điều này thật dễ nhận thấy qua những trang viết cũng như qua bút danh của tác giả. Thân thế Qua thông tin do ông Trương Minh Đạt – người em duy nhất của nhà văn Lư Khê hiện đang còn sống cung cấp thì tác giả sinh ngày 20.1916 tại xã Thuận Yên, Hà Tiên. Lúc nhỏ được gọi tên là Đệ. Ông lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo khổ, cha là ông Trương Văn Huynh, làm nghề đánh cá vược – loài cá ngon nổi tiếng; mẹ là bà Trần Thị Chính, nông dân.
Lư Khê là anh cả trong gia đình có 5 anh chị em. Ba người em của ông là Trương Văn Vinh, Trương Mỹ Huê, Trương Minh Hiển đều đã mất, chỉ có ông Trương Minh Đạt vẫn còn sống và là nhà nghiên cứu về Hà Tiên có uy tín trong giới học thuật. Thuở nhỏ, Lư Khê cùng gia đình sống ở rạch Lư Khê, xóm Rạch Vược. Con rạch này vốn có hai nhánh trổ, một nhánh ra biển, một nhánh thông với vàm Đông Hồ, nơi hợp lại của hai dòng nước tạo thành một ao rộng, nước trong vắt và là nơi loài cá vược tụ tập rất nhiều, len lỏi qua các núi Nhọn, núi Ông Đội và núi Nhỏ tạo thành cảnh quan kỳ thú.
Có lẽ phong cảnh hữu tình đó đã là thi tứ cho Mạc Thiên Tích viết Lư Khê ngư bạc xưa kia. Và đó cũng là lý do mà người em út của Hà Tiên tứ tuyệt chọn Lư Khê làm bút hiệu. Bên cạnh đó, ông còn có bút hiệu khác là Trương Tuấn Cảnh, Bá Âm. Bút hiệu Trương Tuấn Cảnh, theo lời ông Trương Minh Đạt, là bút hiệu mà Trương Văn Em 14 dùng khi sáng tác Vịnh cảnh Hà Tiên của Tuấn Cảnh.
Đây là 10 bài vịnh họa lại Hà Tiên thập cảnh của Mạc Thiên Tích, tuy nhiên tác phẩm này đã bị thất lạc. Hoàn cảnh sống của gia đình khá vất vả, thân sinh của Lư Khê cũng không ai được đi học, có lẽ vì thấm thía với những nhọc nhằn khi không được học hành nên dù khó khăn thiếu thốn, cha mẹ Lư Khê vẫn luôn cố gắng chăm lo cho các con ăn học chu đáo. Học tiểu học ở Hà Tiên, lên bậc trung học Lư Khê học ở Cần Thơ. Ông là người Hà Tiên đầu tiên tốt nghiệp Thành chung tại trường Collège de Cần Thơ.
Từ 1935, Lư Khê lên Sài Gòn dạy học và viết báo. Ông dạy Việt văn ở trường trung học Huỳnh Khương Ninh, Đồng Nai; hợp tác cùng Mộng Tuyết, Trúc Hà viết báo Sống do Đông Hồ làm chủ bút. Trong khoảng thời gian này, nhà thơ gặp gỡ và đem lòng si mê đắm đuối cô Nguyễn Thị Kiêm – chính là Manh Manh nữ sĩ đã lừng lẫy danh tiếng trên thi đàn Thơ mới lúc bấy giờ. Trước sự tài hoa và nổi tiếng của cô gái trẻ lúc ấy, để không thua kém, “Lư Khê hăng hái hoạt động văn chương và xem nữ sĩ như hồng nhan tri kỷ” (Thẩm Thệ Hà, 1998).
Giai đoạn này Lư Khê sáng tác nhiều bài thơ gởi tặng Manh Manh nữ sĩ. Cuối cùng, nhà thơ cũng chiếm được trái tim của người đẹp và ngày 11-11-1937, họ đã thành hôn với nhau. Cuộc hôn nhân này được mọi người trong làng báo nhiệt liệt ủng hộ, nhà báo Diệp Văn Kỳ còn được anh em ký giả “giao nhiệm vụ” viết một bài thơ để mừng cưới với lời thơ dí dỏm: Làng báo anh em đặng thiệp mời Bàn tính cùng nhau kiếm một người Thay mặt toàn thể đọc lời chúc Túng đường họ phải chọn thằng tôi Ra đi họ căn dặn: Nói năng phải nhã nhặn 15 Nhứt là đừng xỏ xiên: Tha hồ cho khen tặng Về nhà nghĩ nghĩ một hồi lâu Lãnh lời rồi phải tính làm sao Mừng khách tao nhơn phải ngâm vịnh Phen này mình chắc rụng hàm râu!. (Diệp Văn Kỳ, 1937) Manh Manh nữ sĩ là thứ nữ của ông Huyện Nguyễn Đình Trị, từng có giai đoạn nhậm chức ở Hà Tiên.
Học tại trường Nữ học Gia Long Sài Gòn, sau đó tốt nghiệp Thành chung, Manh Manh nữ sĩ xin làm cô giáo dạy tại chính ngôi trường mình đã từng theo học trước khi bước chân vào làng báo. Khi Phụ nữ tân văn ra đời, cô trở thành cây bút trẻ nhất của ban biên tập.