CHƯƠNG I TONG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1, KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIÓNG LYGOSOM.4 Giống Thần lần chân ngắn /ygosomz thuộc họ Thần lần bóng (Seincidae), lớp Ba sit (Reptilia), duoc Hardwicke và Gray mô tả đầu tiên vào năm 1827 gồm các loài Thần lần bóng có đặc điểm sau: cơ thể và đuôi thuôn dài, hình trụ; vảy đồng đều và xếp chồng lên nhau; chân ngắn, có 4 chân, mỗi chân 5 ngón, độ dài các ngón khác nhau và có vuốt; đầu phủ vảy. lớn; lỗ tai ẩn sâu nhưng hiện rõ [27]. Theo nghĩa rộng (sensw /zfo), giống. Than lằn chân ngắn (1ygosoma sensu ato) hiện nay có khoảng 50 loài, phân bố kéo đài từ miền Trung và miền Nam châu Phi qua Án Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á đến Australia [18], [52].
Đặc điểm đặc trưng của nhóm này là chín răng hàm trước, xương khẩu cái tiếp xúc nhau ở đường trung tuyến, hồ khẩu cái ở phía sau đường nối hai mắt, nhiều hàng vảy trên ngón, vảy trước. hậu môn có kích cỡ khác nhau, nhiều vảy dưới mắt, có hoặc không có vảy gian mũi, có chân hoặc chân tiêu biến, thân chắc khỏe, có đời sống chui luồn (24), [40] 1. Tình hình nghiên cứu trên thé Những nghiên cứu về Thần lằn bóng nói chung và giống 1ygosoma nói riêng được tiền hành khá sớm. Zygosoma quadrupes là loài đầu tiên của giống được mô tả bởi Linnaeus vào năm 1766 tại đáo Java, Indonesia với tên ban đầu là Anguis guadrupes [52].
Sau đó, các nghiên cứu và công bố loài mới của giống này chủ yếu tập trung ở Án Độ, với bồn loài mới được mô tả gồm. puncara được mô tả năm 1799; tiếp đến hai loài L. vosmareri được mô tả vào năm 1839 va loài L. albopunctatum duge mé ta nim 1846 [22], [23], [52] Từ năm 1864 mới bắt đầu xuất hiện các nghiên cứu đầu tiên về giống.
Thần lần chân ngắn ở Đông Nam A và Trung Quốc. Đầu tiên là công bố của. Gunther vào năm 1964 về mô tả hai loài Thằn lần chân ngắn mới, gồm ¿. isodactylum ở Cam-pu-chia và L.
bowringii 6 Hong Kông, Trung Quốc [26]. Pham vi nghiên cứu sau đó được mở rộng ra với việc mô tả hai loài mới ở Myanmar gồm ¿. anguinm được Theobald công bố năm 1868 [43] va L. lineolatm do Stolizcka công bố năm 1870 [52].
Năm 1895, tai Malaysia, Bartlett công bố loài 7. Sau đó, các nghiên cứu diễn ra ở Indonesia khi Werner mô tả hai loài mới, gồm L. schneideri céng bố năm 1900 [52] va L. opisthorhodum duge công bố năm 1910 [52].
Tiếp nối là các nghiên cứu tập trung tại Thái Lan bởi Smith va Taylor. Trong hai năm liên tiếp, năm 1916 và năm 1917, Smith đã công bế hai loài Thằn lằn chân ngắn. mới gồm ⁄ herberti và L. koratense [37], [38] và đến năm 1962 Taylor công.
bổ hai loài 1. Năm 2012, Geissler và cs. công bồ loài /. veunsaiensis tai Cam-pu-chia [21].
Nam 2016, Heitz và es. công bổ loài 1. tabonorum tai Philippine [28]. Đặc biệt, năm 2018 hàng loạt công trình mô tả loài mới được công bố, khi có bến loài mới được mô tả, gồm loài 1.
siamensis được mô tả đựa vào các mẫu vật được thu tại Thái Lan [36] và ba loài 1. peninsulare được mô tả tại Malaysia [52]. Mới nhất, năm 2019 loài 1. malayana được Grismer và cs.
công bố tại Malaysia [25]. Đến nay, giống Thần lằn chân ngắn (ygosoma sensu lato) trén thé giới có 50 loài [52]. Tuy duge nghién citu tir sém nhưng hệ thống phân loại cia gidng Than Jn chân ngin Lygosoma sensu lato vẫn đang là chủ đề còn nhỉ tranh luận giữa các nhà nghiên cứu. Trong cuốn sách chuyên khảo về Thin lin cia mình, Boulenger (1877) đã chia giéng Lygosoma sensu lato thinh 11 giéng khác nhau, trong dé giéng Lygosoma e6 cdc die diém: chan tay ngiin, mi mat đưới có dạng vay, không có vảy trên mũi, hai vảy trước trấn nhỏ và tách biệt hoàn toàn, vùng trước trán rộng hơn vùng trước mắt [15].
Tuy nhiên đến năm 1935, Smith đã tiến hành phân chia lại giéng Lygosoma sensu lato thành năm giống khác nhau, và giống Lygosoma có các đặc điểm chính sau: mí mắt dưới có các vày lớn và không có vay trên mũi [40]. Sau đó, Datta-Roy (2014) công nhận ba giống từ nhóm loài này (Lygosoma sensu lato) la Lygosoma, Mochlus va Lepidothyris [17]. Gan day, Freitas va es. (2019) dựa vào phân tích trình tự DNA trong nhan va ti thé đã chia giéng Lygosoma sensu lato thanh bén giống.
khác nhau, gồm Lygosoma, Mochlus, Riopa va Subdoluseps [18]. Tuy nhiên, nghiên cứu cia Freitas va ca, [18] lại chua bao gồm đẩy di 50 loii Lygosoma sensu lato, mà chỉ có 23/50 loài được kiểm tra va phân DNA. Do đó, 27 loài còn lại duge Freitas va cs. xi vào nhóm chưa rõ tình trang phân loại.
Như vậy, những nghiên cứu về Thần lằn chân ngắn tập trung chủ yí khu vực Đông Nam Á và hệ thống phân loại của các loài trong giống ygosoma sensu lato vẫn chưa được giải quyết triệt đễ. Ngoài ra, các nghiên cứu về Sinh thái học của Thằn lần chân ngắn cũng chưa được quan tâm và nghiên cứu diy đủ. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về Sinh thái học của nhóm đối tượng này chủ yếu là ghi nhận về phân bố của từng loài, được trình bày trong các cuốn sách chuyên khảo của Smith (1935) [40], Bourret (1947) [47], Bobrov (2008) [49], Nguyen va cs. Ngoài ra, một số thông tin về nơi ở và thức ăn của.
một số loài cũng được để cập ở các dạng ghi chú nhỏ. Trong cuốn sách chuyên khảo về 1 fin Kin ca minh, Smith (1935) [40] ghỉ chú thêm các thông tin về nơi ở của các loài Thần lằn chân ngắn. Năm 2007, Ziegler va cs. ghi nhận loài „ boehmei được tìm thấy ở vùng núi đá vôi và trong dạ đây có chứa các xác thực vật, giun đất [44].
Đến năm 201 1, trong công trình nghiên cứu về các loài Thần lằn chân ngắn ở Đông Dương của mình, Geissler va cs. [20] cũng đã cung cấp một số thông tin về nơi ở và thức ăn của chúng. Loài 1ygosoma angeli được ghi nhận sinh sống ở các khu rừng đất thấp, chui rúc dưới vỏ một gốc cây mục [20]. bowringii ghi nhận sinh sống ở các vùng đất thấp nhưng cũng có thẻ thấy chúng trong các khu rừng thường xanh.
có độ cao lên đến 1.524 mét và chúng ăn các động vật chân đốt nhỏ [20]. corpulentum sinh sống ở cả khu vực đất cao và thắp trong rừng tự nhiên và ẩn nấp dưới các thân cây mục [20]. quadrupes (nay là 1. siamensis) sinh sống ở cả rừng tự nhiên và khu vực đắt nông nghiệp, được tìm thấy dưới thảm mục và ăn các động vật không xương sống nhỏ [20].
Như vậy, có thẻ thấy các nghiên cứu về Sinh thái học ở các loài Thằn lằn chân ngắn mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận trong quá trình khảo sát, phân tích mẫu mà chưa đi sâu vào. nghiên cứu về Sinh thái học Các nghiên cứu về Thần lần chân ngắn chủ yếu tập trung vào phân loại. Lygosoma corpulentum la loai dau tiên được công bố bởi Smith (1921) dựa vào một mẫu vật thu tại Đà Lạt [39]. Sau đó, các loài Thằn lằn chân ngắn có.
phân bố tại Việt Nam được cập nhật trong cuốn sách chuyên khảo vẻ Thần lằn của Smith (1935) [40]. Theo đó, ông đã ghỉ nhận bén loài cho khu hệ Việt Nam, gồm: L. |, nam 1937, Smith mô tả thêm loài L. angeli tại Trảng Bom, Dong Nai [41].
Sau đó, trong bản thảo cuốn sách “Thằn lằn Đông Dương” (được xuất bản năm 2009), Bourret (1947) ghi nhận năm loài cho khu hệ Việt Nam. quadrupes [47] Tới năm 1979, Đào Văn Tiến tổng hợp và thể hiện trong bài báo “VE định loại Thần lần Việt Nam” với sáu loài được liệt kê trong khóa định loại, gồm: 1. Kết quả này tương tự trong cuốn sách chuyên khảo của Bobrov (1995) về Thần lằn của Việt Nam [48]. Sau đó, năm 1996 Darevsky & Orlov mô tả loài L.
carinatum ở Kanak, Gia Lai [16]. Téi năm 2007, Ziegler va cs. mô tả loài 1. boehmei tai Phong Nha - Ké Bang [45].
Như vậy, trong giai doan nay da cé t6i tam loai Thin Lin chin ngin duge ghi nhan phan bố ở Việt Nam, gdm Lygosoma albopunctatum, L. Kết quả này được tổng hợp và liệt kê trong cuốn sách chuyên khảo “Herptofauna. of Vietnam” của Nguyen va cs. Tuy nhiên, trong cuốn sách chuyên khảo “Thẳn lần của Việt Nam” (được.
xuất bản sau cuốn sách chuyên khảo “Herptofauna of Vietnam” ciia Nguyen và es. (2009) [32]), Bobrov (2008) [49] đã loại bỏ loài Lygosoma albopuneiatum ra khỏi danh sách các loài Thần lằn ở Việt Nam. Đến năm 2011, khi xem xét các loài Thần lần chân ngắn ở Đông Dương, Gì issler va cs. ghi nhận chỉ có năm loài Thần lằn chân ngắn có phân bố tại Việt Nam, gồm: Lygosoma angeli, L.
Trong bài báo nay, Geissler và es. cũng không ghỉ nhận loài /. albopunetatum có phân bỗ tại Việt Nam. Tương tự, loài 1.
được xác nhận là không có ở Đông Dương mà chỉ phân bố ở Pakistan, Án Độ, Sri Lanka vi Bangladesh [20]. Theo Geissler va cs. (201 1) [20], ghỉ nhận đầu tiên và duy nhất của loài L. puncatum tại Việt Nam trong các công trình chuyên khảo về Thần lần ciia Bourret (1939) [46] có thể bị sai do Smith (1935) [40] có đề cập một mẫu vật trong Bảo tàng Anh (nay là Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, Luân Đôn) duge Hans Fruhstorfer thu tai tinh Lạng Sơn.
Ngoài ra, Geissler va cs. (2011) [20] con cho rằng loài L. eaziawum được mô tả năm 1996 dựa trên mẫu chuẩn được thu tai Kanak (nay là huyện Kbang, Gia Lai) [16] là cá thể chưa trưởng thành của loài 1. Những mẫu vật được dùng để so sánh là các mẫu vật chưa trưởng thành và trưởng thành được thu thập tai Kbang (Gia Lai), Núi Tạ Dũng (Lâm Đồng), Cát Tiên (Đồng Nai), Cao nguyên Boloven (tỉnh ‘Champasak, Lào) [20].
Theo Daversky & Orlov (1996) [16], dc diém phan biệt giữa hai loài nay 1a L. carinatum c6 go trén vay lưng còn L. corpulentum thì vảy lưng nhẫn. Nhưng Geissler và cs.
(201 1) [20] cho rằng đặc điểm này chỉ có ở những cá thể chưa trưởng thành, còn các cá thé trưởng thành thì hau như không xuất hiện đặc điểm này, trong khi các đặc điểm hình thái được đo đếm khác là tương tự, không có sự khác biệt giữa hai taxon. Tiếp đến, những nghiên cứu gần đây dựa trên phương pháp so sánh hình thái và trình tự DNA đối với nhóm loài 7. gwadrwpes đã làm cơ sở cho việc mô tả hai loài mới [28], [36]. quadrupes do Linnaeus m6 ta nam 1766 (ở đảo Java, Indonesia) chỉ phân bố và bị giới hạn ở đảo Java, đồng thời một loài mới /.