Tổng quan nghiên cứu

Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) là loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm của Việt Nam, hiện được xếp hạng Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Danh lục Đỏ thế giới của IUCN và Sách Đỏ Việt Nam. Với số lượng cá thể hoang dã ước tính chỉ còn dưới 2.000 cá thể và đối mặt với nguy cơ suy giảm hơn 50% trong vòng 30 năm tới, loài này cần các hành động bảo tồn khẩn cấp trước áp lực săn bắt và thu hẹp môi trường sống. Tại xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, sự xuất hiện của một quần thể Chà vá chân xám trong các khoảnh rừng tự nhiên biệt lập, bị bao bọc hoàn toàn bởi nương rẫy trồng keo sản xuất, đặt ra bài toán cấp bách về khả năng duy trì sự sống của loài trong môi trường sinh thái bị chia cắt nghiêm trọng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học của tác giả Bùi Văn Tuấn, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Hà Thăng Long tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, được triển khai nhằm làm rõ các đặc tính sinh thái then chốt của quần thể trong điều kiện sống đặc thù này. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá hiện trạng quần thể, cấu trúc thảm thực vật, quỹ thời gian hoạt động, thành phần dinh dưỡng và tập tính thích nghi sinh thái tại khu vực Hòn Dồ cùng các vùng lân cận. Nghiên cứu được tiến hành trong 110 ngày thực địa từ tháng 01/2020 đến tháng 03/2021. Kết quả từ đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về 12 đàn với 99 đến 104 cá thể phân bố trên 86,0 ha rừng tự nhiên, tạo luận cứ khoa học quan trọng để chính quyền địa phương và các tổ chức quốc tế hoạch định hành lang đa dạng sinh học liên vùng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Sinh thái Cảnh quan (Landscape Ecology) và Lý thuyết Tối ưu hóa Tìm kiếm Thức ăn (Optimal Foraging Theory). Lý thuyết Sinh thái Cảnh quan giải thích tác động của hiện tượng phân mảnh sinh cảnh đối với sự chia cắt không gian sống, biến động cấu trúc bầy đàn và rủi ro cô lập di truyền của thú linh trưởng. Lý thuyết Tối ưu hóa Tìm kiếm Thức ăn làm sáng tỏ cơ chế lựa chọn thành phần dinh dưỡng nhằm tối đa hóa năng lượng thu nhận trong bối cảnh nguồn thức ăn tự nhiên bị thu hẹp. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình tổ sinh thái (Ecological Niches) để phân tích khả năng phân vùng độ cao của loài từ 110m đến 600m so với mực nước biển. Các khái niệm cốt lõi được sử dụng xuyên suốt gồm: tính đặc hữu sinh học, sinh cảnh đảo rừng (forest fragments), đơn vị bầy đàn đơn đực (One-Male Units – OMU), đơn vị bầy đàn đa đực đa cái (Multi-Male/Multi-Female Units – MM/MFMU), và cấu trúc quỹ thời gian hoạt động sinh thái (Activity Budget).

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp dữ liệu sơ cấp từ 110 ngày điều tra thực địa và dữ liệu thứ cấp về hiện trạng tài nguyên rừng từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm: 50 phiếu phỏng vấn cán bộ lâm nghiệp và người dân địa phương; 4 ô tiêu chuẩn thực vật có kích thước 50m đến 60m x 10m được thiết lập theo hướng Nam - Bắc với khoảng cách 100m để đo đạc cây thân gỗ có đường kính ngang ngực từ 5cm trở lên; 13.584 mẫu quan sát tập tính trích xuất từ 115 giờ video chọn lọc; cùng 40 video bẫy ảnh độc lập ghi nhận tập tính uống nước.

Phương pháp lấy mẫu cá thể mục tiêu (Focal-Animal Sampling) với khoảng thời gian quan sát 7 phút 30 giây và ghi nhận dữ liệu định kỳ mỗi 30 giây được lựa chọn thay thế cho phương pháp bám đàn truyền thống. Lý do là địa hình núi đá Hòn Dồ có độ dốc lớn, nhiều dây leo rậm rạp và linh trưởng thường lẩn tránh sang các rẫy keo khi có người tiếp cận. Việc sử dụng máy quay phim Nikon Coolpix P1000 tiêu cự lớn đặt tại 5 điểm quan sát ngụy trang cách xa 30m đến 200m kết hợp bẫy ảnh tự động giúp thu thập dữ liệu hành vi chân thực, không làm xáo trộn đời sống hoang dã. Dữ liệu tập tính và dinh dưỡng được xử lý thống kê mô tả, kiểm định Chi bình phương trên phần mềm SPSS 20 và biên tập bản đồ phân bố bằng MapInfo 15.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận 12 đàn Chà vá chân xám với tổng số từ 99 đến 104 cá thể sinh sống tại 9 khoảnh rừng tự nhiên phân tán trên địa bàn xã Tam Mỹ Tây với tổng diện tích ước tính 86,0 ha. Quần thể tập trung đông nhất tại Hòn Dồ với 31 cá thể thuộc 3 đàn, tiếp theo là Hòn Ông với 16 cá thể và Hòn Nhọn với 15 cá thể. Cấu trúc bầy đàn duy trì hai dạng chính là OMU và MM/MFMU; riêng tại Hòn Dồ đã ghi nhận mức tăng 13 cá thể so với khảo sát năm 2019 nhờ sự sinh sản tự nhiên và sáp nhập đàn.

Thứ hai, thảm thực vật Hòn Dồ với diện tích 10,57 ha thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh nghèo phục hồi, ghi nhận 148 loài thực vật bậc cao thuộc 47 họ. Mật độ cây có đường kính ngang ngực trên 5cm đạt 891 cây/ha; trong đó cây có đường kính dưới 25cm chiếm 77,8% và cây có chiều cao vút ngọn từ 5m đến 15m chiếm hơn 70%.

Thứ ba, phân tích 13.584 mẫu quan sát cho thấy quỹ thời gian hoạt động trong ngày (từ 5:00 đến 18:00) dành tỷ lệ cao nhất cho hoạt động xã hội (35,53%) và thấp nhất cho di chuyển (11,40%). Thành phần thức ăn gồm 60 loài thực vật, trong đó lá non và quả chiếm tỷ trọng vượt trội hơn 70% khẩu phần; đồng thời ghi nhận loài này sử dụng cả lá keo lai (Acacia sp.) làm thức ăn bổ sung.

Thứ tư, bẫy ảnh tự động đã ghi lại 40 video độc lập về hành vi uống nước trực tiếp từ các hốc đá tự nhiên và nhân tạo bên trong Hòn Dồ vào mùa khô, với nhiệt độ ghi nhận lên tới 35°C vào lúc 11:31.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ thời gian dành cho di chuyển của quần thể Tam Mỹ Tây (11,40%) thấp hơn rõ rệt so với quần thể tại Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh (25,81%), trong khi tỷ lệ hoạt động xã hội lại vượt trội hơn (35,53% so với 25,14%). Sự khác biệt này xuất phát từ diện tích sinh cảnh Hòn Dồ bị giới hạn trong 10,57 ha; không gian sinh tồn thu hẹp khiến cự ly di chuyển tìm thức ăn ngắn lại, thúc đẩy các cá thể tập trung tương tác bầy đàn để củng cố trật tự xã hội. Cơ cấu thức ăn biến đổi linh hoạt theo từng tháng với sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), chứng minh khả năng thích ứng dinh dưỡng dẻo dai đối với nguồn thức ăn sẵn có trong rừng tái sinh nghèo. Hành vi uống nước mặt dưới đất phản ánh phản ứng sinh thái thích nghi trước nền nhiệt mùa khô gay gắt khi nguồn nước từ sương và dịch lá trên tán cây không đủ đáp ứng.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu thành phần thức ăn, biểu đồ cột chồng so sánh quỹ thời gian hoạt động theo các nhóm tuổi - giới tính, và bảng phân tích ma trận thể hiện mật độ phân bố đường kính thân cây trong 4 ô tiêu chuẩn thực vật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh cấp tỉnh tại xã Tam Mỹ Tây trong giai đoạn 2021-2025. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cùng Chi cục Kiểm lâm cần đóng vai trò chủ trì, thiết lập ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt cho toàn bộ 86,0 ha rừng tự nhiên hiện hữu nhằm ngăn chặn tình trạng xâm lấn đất rừng và bảo vệ 12 đàn linh trưởng.

Thứ hai, triển khai dự án phục hồi và kết nối hành lang sinh thái xanh trong giai đoạn 2022-2026. Ban Quản lý rừng phòng hộ và chính quyền địa phương cần tiến hành trồng bổ sung các loài cây bản địa là cây thức ăn ưu thích của loài, ưu tiên kết nối khoảng cách 300m giữa Hòn Dồ (10,57 ha) và Hòn Dương Bông, từng bước thu hồi hoặc chuyển đổi từ 30 đến 50 ha đất trồng keo sản xuất sang đất lâm nghiệp đặc dụng.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ tuần tra thôn bản Tam Mỹ Tây từ năm 2021 trở đi. Ủy ban nhân dân xã Tam Mỹ Tây phối hợp với các tổ chức bảo tồn tăng tần suất tuần tra rừng từ 10 ngày/tháng lên 15 đến 18 ngày/tháng, ứng dụng thiết bị định vị GPS và phần mềm SMART, đặt mục tiêu loại bỏ 100% các loại bẫy thú và ngăn chặn triệt để hành vi săn bắn bằng súng tự chế.

Thứ tư, duy trì giải pháp cấp nước sinh thái nhân tạo định kỳ trong các tháng mùa khô cao điểm từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm. Lực lượng kiểm lâm địa bàn và cộng đồng địa phương cần tiếp tục theo dõi, nạo vét và bảo dưỡng 3 hốc nước nhân tạo lát đá tại Hòn Dồ nhằm đảm bảo cung cấp nước uống liên tục cho 31 cá thể khi nhiệt độ môi trường vượt ngưỡng 35°C.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu sinh thái học và linh trưởng học: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu thực địa chi tiết về hành vi thích nghi, cấu trúc đàn và tập tính uống nước mặt hiếm gặp của loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp trong sinh cảnh ốc đảo rừng bị chia cắt.

Thứ hai, cán bộ quản lý lâm nghiệp và bảo tồn thiên nhiên: Công trình là căn cứ khoa học trực tiếp giúp Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng phương án thành lập khu bảo tồn loài, quy hoạch mạng lưới hành lang xanh và chuyển đổi cơ cấu đất rừng tại miền Trung.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Số liệu định lượng về 99 đến 104 cá thể cùng hiện trạng 86,0 ha rừng tự nhiên hỗ trợ các tổ chức như Primate Conservation Inc hay WWF xây dựng các đề án tài trợ bảo tồn dựa vào cộng đồng và đánh giá tính dễ tổn thương của loài.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Sinh học, Quản lý tài nguyên rừng: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp máy quay phim cự ly xa, bẫy ảnh tự động và kỹ thuật lấy mẫu cá thể mục tiêu trong nghiên cứu động vật hoang dã.

Câu hỏi thường gặp

Quần thể Chà vá chân xám tại xã Tam Mỹ Tây hiện có quy mô bao nhiêu cá thể? Nghiên cứu qua 110 ngày thực địa đã xác định có 12 đàn với tổng số từ 99 đến 104 cá thể phân bố tại 9 khu rừng tự nhiên trên diện tích 86,0 ha. Hòn Dồ là nơi tập trung đông nhất với 31 cá thể, tăng 13 cá thể so với ghi nhận năm 2019 nhờ quá trình sinh sản và nhập đàn.

Vì sao Chà vá chân xám ở Hòn Dồ dành nhiều thời gian cho hoạt động xã hội hơn di chuyển? Do diện tích rừng tự nhiên Hòn Dồ chỉ có 10,57 ha và bị cô lập bởi rừng keo, phạm vi kiếm ăn bị thu hẹp khiến tỷ lệ di chuyển giảm xuống 11,40%. Mật độ cá thể tập trung cao trong không gian nhỏ kích thích các hành vi tương tác bầy đàn, đẩy tỷ lệ hoạt động xã hội lên 35,53%.

Nguồn thức ăn chủ yếu của loài tại khu vực này gồm những loại thực vật nào? Nghiên cứu ghi nhận 60 loài thực vật bậc cao thuộc thảm thực vật Hòn Dồ được sử dụng làm thức ăn. Trong đó, lá non và quả chiếm hơn 70% tổng thành phần dinh dưỡng. Đáng chú ý, loài này đã thích nghi bằng việc ăn bổ sung lá của cây keo lai trồng xung quanh khu vực nghiên cứu.

Tập tính uống nước trực tiếp trên mặt đất của Chà vá chân xám được ghi nhận ra sao? Bẫy ảnh tự động đặt tại hốc nước ĐN2 trong Hòn Dồ đã ghi nhận 40 đoạn video độc lập quay lại cảnh loài xuống đất uống nước. Dữ liệu thực địa chứng minh tập tính này diễn ra chủ yếu vào mùa khô khi nhiệt độ môi trường tăng cao vượt ngưỡng 35°C.

Giải pháp nào là cấp thiết nhất để bảo vệ quần thể Chà vá chân xám tại địa phương? Giải pháp then chốt là quy hoạch hành lang sinh thái kết nối các khoảnh rừng phân mảnh, ưu tiên đoạn 300m giữa Hòn Dồ và Hòn Dương Bông. Song song đó, việc duy trì tuần tra bảo vệ rừng 10 đến 15 ngày/tháng của Tổ tuần tra thôn bản giúp loại bỏ hoàn toàn nguy cơ săn bắn.

Kết luận

Những đóng góp cốt lõi của luận văn thạc sĩ được tổng hợp qua các điểm chính:

  • Xác lập hiện trạng phân bố chính xác của 12 đàn với 99 đến 104 cá thể Chà vá chân xám trên 86,0 ha rừng tự nhiên thuộc xã Tam Mỹ Tây.
  • Đánh giá cấu trúc thảm thực vật rừng Hòn Dồ rộng 10,57 ha với 148 loài thực vật, mật độ 891 cây/ha, mang đặc trưng của rừng thứ sinh nghèo đang phục hồi.
  • Định lượng chi tiết quỹ thời gian hoạt động ngày với tỷ lệ hoạt động xã hội đạt 35,53% và di chuyển chiếm 11,40% qua 13.584 mẫu quan sát.
  • Xác định danh mục 60 loài cây thức ăn với tỷ lệ lá non và quả chiếm trên 70%, phát hiện khả năng ăn bổ sung lá keo lai thích nghi sinh cảnh.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm qua 40 video bẫy ảnh chứng minh tập tính uống nước mặt vào mùa khô khi nhiệt độ vượt 35°C.

Luận văn đã làm sáng tỏ khả năng thích ứng sinh thái dẻo dai của loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp trong điều kiện sinh cảnh phân mảnh nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2021-2025, việc khẩn trương thành lập khu bảo tồn loài và xây dựng hành lang kết nối sinh thái là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ bền vững nguồn gen quý giá này. Các cơ quan quản lý, tổ chức khoa học và cộng đồng hãy cùng chung tay thúc đẩy các giải pháp bảo tồn nguyên vị, lan tỏa thông tin nghiên cứu và tăng cường giám sát thực địa để bảo vệ loài Chà vá chân xám trước nguy cơ tuyệt chủng.