CHƯƠNG 1 TONG QUAN CAC VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Đa dạng sinh học Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhién (World Wildlife Fund) thì đa dạng sinh học là “sự phỏn thịnh của cuộc sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài động vật thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống”. Theo công tước đa dạng sinh học (1992), “Da dang sinh học” có nghĩa là tính biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần. Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học.
Theo tir dién Đa dạng sinh học và phát triển bền vững (2001) da dạng sinh học là “Thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên. Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trên liền, dưới biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (da dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thai)” [5] Nhu thé, đa dạng sinh học cần phải được xem xét ở ba cap độ: đa dạng di truyền; đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng di truyền Đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen, chỉ sự phong phú về gen và sự khác nhau số lượng của các gen, bộ gen trong mỗi quân thê và giữa các cá thể.
Đa dạng di truyền bao gồm các thành phần của các mã di truyền cấu trúc cơ thể (nucleotides, genes, chromosomes) và sự biến đôi trong cấu trúc giữa các cơ thê của. cùng một quần thể và giữa các quần thể khác nhau. Sự đa dạng di truyền trong loài thường bị ảnh hưởng bởi những tập tính sinh sản của các cá thê trong quản thể. Một quần thể chỉ có thể có một vài cá thể, nhưng cũng.
có quan thé có hàng triệu cá thể. Các cá thể trong cùng một quần thể thường có kiểu gen khác nhau. Sự khác nhau về kiểu hình giữa các cá thể là do có sự tương tác giữa các kiểu gen khác nhau với môi trường. Sự khác biệt về gen tạo điều kiện cho các loài thích ứng với sự thay đổi của môi trường.
Thực tế cho thấy, các loài quý hiếm, phân bồ hẹp thường đơn điệu về kiểu gen so với các loài phổ biến, phân bố rộng; những loài như vậy thường rắt nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường và hậu quả là dễ bị tuyệt chủng [25] 1. Đa dạng về loài Theo E.Wilson, loài là tập hợp các sinh vật có thể giao phối tự nhiên đề sinh ra thế hệ hữu thụ. Một loài là một nhóm sinh vật có những đặc điểm di truyền riêng biệt và chiếm một khu vực địa lý nhất định. Các cá thê trong một loài thường không tự do.
giao phối với các cá thể của loài khác. này được quy định bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự khác biệt về gen, các tập tính, nhu cầu sinh học cũng như khu vực địa lý sinh sống. Các cá thể trong loài có vật chất di truyền "tương đối” giống nhau. Các cá thể trong loài chứa toàn bộ thông tin di truyền của loài.
Đa dạng loài bao gồm các bậc phân loại và các thành phần của nó, từ các cá thể đến các loài, chỉ và cao hơn. Bằng cách xác định mối quan hệ họ hàng giữa các loài, các nhà phân loại học giúp các nhà bảo tồn sinh học xác định loài hoặc nhóm loài có thể tiến hoá theo một con đường duy nhất hoặc theo một cách đặc biệt của những nỗ. lực bảo tồn. Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng.
các phân loài (loài phụ) trên quả đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc gia hay một sinh cảnh nhát định. Đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và được coi là quan trọng nhất khi đề cập đến tính đa dạng di truyền. Các nhà đa dạng di truyền đã mô tả hơn 11.000 loài mới mỗi năm. Hiện nay có khoảng trên 1.4 triệu loài sinh vật đã được mô tả và dự đoán có thể có từ 5 triệu đến 30 triệu loài sinh vật trên quả đất (Wilson, 1988).
Hiện nay mới chỉ mô tả được khoảng 3 - 5% tổng số các loài sinh. Đa dạng hệ sinh thái Da dang hé sinh thái là phạm trù chỉ sự phong phú của môi trường trên cạn và dưới nước của quả đất tạo nên một số lượng lớn các hệ sinh thái khác nhau. Sự đa dạng các hệ sinh thái được phản ánh bởi sự đa dạng về sinh cảnh qua mối quan các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyến. Đa dạng hệ sinh thái bao gồm các mức độ sinh thái khác nhau của quần thể, thông qua nơi ở và ổ sinh thái, đến sinh cảnh.
Sự phong phú về môi trường trên cạn và dưới nước của quả đất tạo lên một số lượng lớn các hệ sinh thái. Sự đa dạng của các hệ sinh thái được phản ánh bởi sự đa dạng về sinh cảnh qua mồi quan hệ giữa các quần xã sinh vật va các quá trình sinh thái trong sinh quyền. Việc phân chia hệ sinh thai hay sinh cảnh trên thực tế là rất khó khăn vì ranh giới của chúng không rõ ràng. Những sinh cảnh rộng lớn trên quả đất bao gồm cả rừng.
nhiệt đới, những cánh đồng cỏ, đất ngập nước, rừng ngập mặn, sinh cảnh biển. những nhóm nhỏ khác. Trong khi cây Hạt kín được ước tính khoảng 400.[18], 130] Cây lá kim được xếp thành 8 họ, 70 - 75 chỉ và khoảng 635 loài. Trong đó hai chỉ lớn nhất là Thông (Pinus) va Kim giao (Podocarpus), mdi chi có trên 100 loài.
Trong số các chỉ còn lại 75% là chỉ đơn loài hoặc chỉ có ít hơn 5 loài. Khu vực Bắc Mỹ, người ta đã phát hiện cây thong Pinus aristata được biết đã sống khoảng 6.000 năm và cây Tùng đỏ duyên hải Sequoia sempervirens đạt tới chiều cao 100 m, có đường kính ngang ngực trên 12 m{[18], [30] Phạm vi phân bố của các loài cây lá kim trên thế giới chủ yếu tập trung ở những. nước ôn đới và cận nhiệt đới tại Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ. Cây lá kim không phân bố tại những vùng quá nóng như sa mạc hay quá lạnh như Tây Tạng hoặc những vùng.
nhiệt đới thấp. Phần lớn các loài cây lá kim tại Tây Nam Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đông. Duong thude céc ho Théng (Pinaceae) va Hoang din (Cupressaceae). Những họ cây lá kim chính ở Nam bán cầu là ho Bach tin (Araucariaceae) va Kim giao (Podocarpaceae) với điểm nóng về đa dạng tại New Caledonia có tới 43 loài đặc hữu [18], [30] Hiện tại có trên 200 loài cây lá kim được xếp là bị đe dọa tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu, chiếm 34% các loài cây lá kim trên thế giới bởi những đe dọa hay gặp nhất là việc khai thác quá mức lấy gỗ và các sản phẩm khác, phá rừng để canh tác nông nghiệp [47] Họ Kim giao (Podocarpaceae) từ 17 chỉ trở lên và 125 loài cây lá kim, cây thường xanh và cây bụi phân bố chủ yếu ở Nam bán cầu.
Bảy chỉ chính là Pherosphaera, Microcachrys, Saxegothaea, Dacrydium, Acmopyle, Podocarpus va Phyllocladus. Tat cả phân bỗ ở khu vực Úc, ngoại trừ Saxegothaea và họ hàng của nó. (Nam Mỹ); một chỉ khác là⁄4/zocazpus, có nguồn gốc từ Châu Phi và Madagascar. Chi lớn nhất - Podocarpus chứa khoảng 100 loài và thường được gọi là gỗ vàng.
Nó phân bó rộng rãi trong các khu rừng núi ở Nam bán cầu và xuất hiện ở phía bắc như Mexico, miền nam Trung Quốc và miền nam Nhat Ban. Chi Dacrydium có khoảng 16 loài; ở Úc có cây bụi và nồi tiếng là cây thông đỏ New Zealand. théng can tay (Phyllocladus asplenifolius) là cây được biết đến nhiều nhất trong số các loài cây và cây bụi của Úc trong chi Phyllocladus. Chỉ Saxegorhaea có một cây gỗ duy nhất có nguồn gốc từ Nam Mỹ - (Saxegothaea conspicua).
Tại New Caledonia có duy nhất một chi Phyllocladus véi loài Parasitaxus ustus - là loài duy nhất trong số các thực vật Hạt trần ký sinh trên một chỉ khác của Podocarpaceae, loài Fafcaj/olium. Rễ của Parasitaxus ustus xâm chiếm những vật chủ của nó và ký sinh trùng lấy nước và chất dinh dưỡng từ rễ của vật chủ. Năm 1970, chỉ có bảy chi Podocarpaceae được công nhận: Podocarpus, Dacrydium, Phyllocladus, Acmopyle, Microcachrys, Saxegothaea và Pherosphaera. Tắt cả bồn loài châu Phi đều thuộc Podocarpus - P.
Các nhà phân loại học đã chia các loài Podocarpws thành tám nhóm loài dựa trên giải phẫu la: Afrocarpus J.Jolholz & NEGray, Dacrycarpus EndL, Eupodocarpus Endl.), Polypodiopsis CEBertrand, Stachycarpus Endl.AWholz va NEGray. Nhưng đến năm 1990, các nhà nghiên cứu đã công nhận họ Podocarpaceae có 17 chỉ. Những nghiên cứu ở Việt Nam về đa dạng thực vật có liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu về hệ thực vật Ở Việt Nam, từ những năm đầu của thế kỷ này đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về hệ thực vật.
Trước hết phải kể đến đó là bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương. Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã kiểm kê được ở Đông Dương có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch. Từ những dẫn liệu ghi trong bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương, năm 1965 Pócs T. đã thống kê hệ thực vật phía Bắc Việt Nam có 5.
Tiếp theo bộ sách Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam “Flore du Cambodge du Lao et du Vietnam” do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960-2015) cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay đã công bó 34 tập nhỏ gồm 79 họ. Tuy nhiên con số này còn ít xa so với số loài thực vật đã biết ở 3 nước Đông Dương. Phan Kế Lộc trong một công trình “Bước đầu thống kê số loài đã biết ở miền Bắc Việt Nam” cho thấy hệ thực vật Bắc Việt Nam có 5.660 chỉ và 240 họ (xếp theo hệ thống Engler, 1954-1964).
Trần Đình Lý (1993) đã công bé 1.900 cây có ích ở Việt Nam[31]: Võ Văn Chỉ (1996) đã công bồ Từ điển cây thuốc Việt Nam với 3.105 loài cây sử dụng làm thuốc[10]. Trong cuốn “Cam nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật Hạt kin (Magnoliophyta, Angiospermae) ở Việt Nam”, Nguyễn Tiến Bân (1997) đã giới thiệu 265 họ, khoảng.