Chương I: Tổng quan (17 Trang) 'Chương 2: Thời gian, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu (5 Trang) “Chương 3: Kết quả và thảo luận (29 Trang) Kết luận và kiến nghị (2 trang) Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 4 CHUONG 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Téng quan về san hô 1. Khái niệm San hô là các sinh vật biển thuộc lớp san hô (4mihozoa) ngành Ruột khoang (Cnidaria) tồn tại dưới dạng các thể polyp nhỏ giống hải quỳ, thường sống thành các quần thê gồm nhiều cá thê giống hệt nhau. Các cá thê này tiết ra cacbonat canxi để tạo bộ xương cứng, xây nên các rạn san hô tại các vùng biển nhiệt đới [13].
'Rạn san hô là các thực thẻ địa lý tự nhiên có nguồn gốc từ sinh vật. Trong đó quan trọng nhất là san hô tạo rạn và rong đỏ có vôi (Calcareous Red Aigae). Quần xã sinh vật rạn san hô gồm hàng nghìn loài trong đó có cả san hô và sinh vật ngoài san hô, các nhóm. động thực vật từ đơn bảo đến đa bảo, các loài nắm, vỉ sinh vật.
cùng tham gia vào quá trình chuyển hoá vật chất và năng lượng của hệ sinh thái ran san hô[7]. Đặc điểm môi trường phân bố San hô là sản phâm đặc trưng của vùng biển nông nhiệt đới, chỉ phần bố ở những. nơi có nhiệt độ nước trung bình không thấp hon 20°C va d6 mudi 28 ~ 35, nước trong, nhiều ánh sáng và độ sâu không quá 30m. Thể giới hiện có hàng ngàn rạn san hộ, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhưng các rạn san hô chỉ hình thành ở khu vực hai bên đường xích đạo trải từ vĩ độ 30° Bắc đến 30° Nam [13] Do có tảo cộng sinh nên san hô tạo rạn rất cần ánh sáng mặt trời.
này không cho. phép san hô sống ở vùng nước quá đục hoặc ở vùng có độ sâu lớn, liên quan đến độ trong còn do vật lơ lửng trong nước [11] 'Các quần đảo san hô đã tạo nên một vành đai nỗi tiếng ở Thái Bình Dương, như. Great Barrier, kéo dài 3200km dọc bờ Queensland và Bắc New Guinea, ở phía Tây Đại ‘Tay Duong, tir Yucatan kéo xuống phía Nam dài 200km và tập trung nhiều ở vịnh Caribe cũng như ở bờ Tay An Độ Dương. Trong đó, vùng biển Án Độ-Thái Bình Duong (bao gồm Hồng Hải, Án Độ Dương và Thái Bình Dương chiếm 91,9% trong tổng số diện tích san hô hiện nay.
Vùng biển Đông Nam Á chiếm 32.3% trong khi Thái Bình Dương bao gdm ca Australia chi bao phủ 40,8%. Tai Dai Tây Dương và biển Caribbe thì rạn san hô. chỉ bao phủ 7,6% diện tích san hô trên thể giới [41]. Khu vực đa dạng nhất trên thể giới cho các ran san hô được tập trung vào Philippines, Indonesia, Malaysia va Papua New Guinea, với từ 500 đến 600 loài san hô với hơn 1300 loài cá ở các quốc gia này [34] 'Ở vùng biển ven bờ Việt Nam, nhiệt độ và cường độ ánh sánh thường xuyên thuận lợi cho sự phân bồ của rạn san hô.
Yếu tố quyết định lớn nhất là ảnh hưởng của các hệ 1g sông lớn thông qua độ muối, nền đáy và độ đục của nước. Nhìn chung có thể chia thành 5 vùng phân bố khác nhau [7]: ~ Vùng biên phía tây vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Hồng. 5 - Viing bién bic Trung B6 tir déo Hai Van téi mdi Varrella (khoang 13°N) ~ Vùng biển nam Trung bộ mũi Varella tới nam Bình Thuận. ~ Vùng đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Mê Kông.
~ Vùng tây Nam Bộ chịu ảnh hưởng của chế độ ven bờ vịnh nông và dòng lục địa từ Kiên Giang, Minh Hải và cả trên đất Campuchia. Vai trò và tim quan trọng Rạn san hô là một trong những hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học và năng suất cao nhất trên trái đất [40] và được xem là rừng mưa nhiệt đới của đại dương. Rạn san hô góp phần rất quan trọng trong phát triển kinh tế biển (đánh bắt, du lich.), duy trì cân bằng sinh thái và chúng thật sự mang lại nguồn thu nhập kinh tế rất lớn cho con người nơi đây nói riêng và của quốc gia đó nói chung. “Trong tiến trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, do nhu cầu của con người, RSH là nơi được chú trọng khai thác, nhất là trong lĩnh vực du lịch, RSH với vẻ đẹp tự.
nhiên có một không hai trên hành tỉnh, đã thực sự trở thành “nguồn ¿hw nhập lớn” đối với các nước có nguôn lợi này. Bên cạnh đó, RSH còn có nhiều giá trị về khoa học, sinh thái môi trường và bảo vệ bở biển, cá giá trị này ngày cảng được khẳng định rằng còn lớn hơn những giá trị kinh tế trông thấy. sự hình thành và phát triển các RSH với sự đa dạng cao thành phần quần xã sinh vật rạn đã tham gia giữ cân bằng cho cả vùng biển nhiệt đới. Các HST RSH với khả năng sản xuất rất cao đã tạo ra cơ sở dinh dưỡng hữu.
cơ phong phú, cung cấp thức ăn cho không chỉ sinh vật trong hệ rạn, còn cho cả vùng biển xung quanh. Vì thế, đề khai thác và sử dụng RSH trên quan điểm bèn vững, trước hết cần đánh giá đúng đắn giá trị của RSH cùng những đặc trưng nguồn lợi của nó. Ngoài ra, RSH cũng là tiền đề quan trọng để thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên ven biển, góp phần bảo vệ môi trường và tài nguyên biễn, phục vụ nghỉ cứu khoa học và giáo dục dân trí về ý thức bảo vệ môi trường cũng như RSH có giá trị lớn trong việc che chan chống xói lở nhiều vùng ven bờ và đảo. Đối với thiên nhiên ~ Bảo vệ vùng bờ: Rạn san hô tham gia vào quá trình hình thành và bảo vệ hing ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên toàn thế giới, có ý nghĩa quan trọng đối với công đồng dân cư ở nhiều đảo và vùng ven biển trong phương diện bảo vệ đất dai và phục vụ nhu cầu cuộc sống con người [33].
Trong nhiều trường hợp rạn còn là rào chắn bảo vệ bờ chống. xói lở, tạo điều kiện cho các vùng rừng ngập mặn ven biển phát triển. Những đê tự nhiên này còn bảo vệ cho vùng nước sau rạn khỏi sóng bão. Ước tinh mỗi km rạn san hô cho.
phép tiết kiệm 190.000 USD chỉ phí cho việc bảo vệ vùng bờ hàng năm. ~ Năng suất sinh học: Sức sản xuất sơ cắp của rạn san hô thường cao hơn vùng. ngoài rạn đến hàng trăm lần (năng suất sơ cấp thô của các hệ san hô đạt đến 1500 - 5000. &C/mẺ/năm, năng suất sơ cáp thô của các vùng khô nhiệt đới chỉ vào khoảng 18 - 50 6 gC/m?/nim) di tao ra nguén dinh dưỡng hữu cơ, và là nguồn cung cấp thức ăn phong phú không chỉ cho bản thân sinh vật sống trong rạn mà còn cho cả vùng biển chung quanh [49].
~ Nơi trú ngụ, sinh sản của sinh vật: Ngoài ra, các rạn san hô là những nơi cư trú cho những loài động thực vật sống định cư hay nơi kiếm sông, bãi đẻ, nơi trốn tránh kẻ. thù của những loài cá nhiệt đới hoặc cá chuyên sống trong rạn san hô, giáp xác, thân mềm.đặc biệt là cá con. Chính vì vậy, nơi đây đã nhận sinh sóng khoảng 4.000 loài cá chiếm 1⁄4 lượng cá biển trên toàn thể giới [35], gần 800 loài san hô tạo rạn và hàng trăm. Các nhà khoa học ước tính có thể có từ 1 đến 8 triệu sinh vật chưa được khám.
phá khác sống trong và xung quanh các rạn san hô [42]. ~ Lữu trữ nguôn gen: Với tính đa dạng, phong phú về thành phần loài tại vùng rạn san hô, cho nên rạn được coi là “kho dự trữ nguồn gen", Ran san hô còn được coi là nơi nuôi dưỡng và bảo vệ nhiều loài sinh vật quý. Chúng lưu trữ nhiều chứng cứ để chúng ta có thể hiéu được các quan thẻ động thực vật phát triển như thé nào và có chức năng gì, cũng như chúng có thể có những giá trị tiềm an trong tương lai. Đối với kinh tế “Theo nghiên cứu Costanza và cs, các ran san hô có thể cung cấp hàng hóa và dich vụ trị giá 375 tỷ đô la mỗi năm.
Đây là một con số tuyệt vời cho một môi trường bao. phủ ít hơn 1% bề mặt Trái Đắt [37]. Theo một ước tính khác, tổng lợi ích ròng mỗi năm. của các rạn san hô trên thé giới là 29,8 tỷ đô la.
Du lich và giải trí chiếm 9,6 tỷ đô la số tiền, bảo vệ bờ biển cho_ 9,0 tỷ đô la, thủy sản cho 5,7 tỷ đô la, và đa dang sinh học với 5,5 tỷ đô la [28]. Với sự đa dạng về hình thái và màu sắc, rạn san hô đã trở thành tài nguyên quý giá mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho nhiều quốc gia vùng biên nhiệt đới. Trong vải thập niên gần đây do nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí tăng cao, rạn san hô trở thành nguồn thu lớn. cho ngành du lịch sinh thái.
Rạn san hô là nơi các du khách tham quan bơi lội và lặn, hàng năm một lượng lớn du khách đến các đảo và vùng ven biển nơi có các ran san hô. đẹp để thư giản và khám phá vẻ đẹp kỳ diệu của các rạn san hô. Các nguồn thu từ du lich rạn san hé 6 Uc (Great Barrier Reefs) hàng năm thu gần 2 tỷ đô la Úc. Các rạn của Florida thu mỗi năm thu 1,6 ty USD, chỉ riêng du lịch lặn ở Caribbe va Hawaii thu khoảng 300 triệu USD [48].
Ngoài ra, hằng năm nghề đánh bắt cá ở rạn san hô đã góp. phần cung cấp thực phẩm và sinh kế cho trên 10 triệu người ở các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển [29]. Thống kê từ nghề thương. mại cá rạn san hô nhập khâu vào thị trường Hồng Kông và Trung Quốc hàng năm từ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương dao động từ 18.000 tắn/năm với doanh thu ước tinh có thể lên đến 810 triệu đôla Mỹ/năm [39] 7 1.
Hiện trạng suy giảm rạn san hô hiện nay trên thé giới và tai Vigt Nam a. Trên thế giới Ran san hô là một hệ sinh thái vô cùng quý giá, không chỉ chúng rất quan trọng đối với thiên nhiên mà còn đại diện cho tài nguyên quan trọng đối với con người. Theo ước tính toàn cầu gần đây, rạn san hô chiếm 284.2% diện tích thềm. lục địa trên thế giới và chỉ chiếm 0,09% tổng diện tích đại dương của thế giới [49].