Chương 1- Khái luận về quyền và nghĩa vụ của ngƣời thừa kế Chương 2- Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của ngƣời thừa kế và kiến nghị 4 CHƢƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI THỪA KẾ 1. Khái quát về thừa kế 1. Căn cứ phát sinh ra quyền và nghĩa vụ của ngƣời thừa kế Trong pháp luật, thừa kế là quá trình chuyển nhƣợng các tài sản, quyền lợi của ngƣời chết (ngƣời để lại di sản thừa kế) sang cho ngƣời khác (ngƣời thừa kế). Quá trình này thƣờng đƣợc điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về thừa kế của quốc gia.
Cụ thể, khi một ngƣời qua đời, di sản của ngƣời đó sẽ đƣợc chuyển nhƣợng đến các ngƣời thừa kế có thể thông qua di chúc hoặc theo quy định của pháp luật của quốc gia. Quá trình này có thể bao gồm việc chia tài sản, quyền lợi, trách nhiệm của ngƣời chết cho ngƣời thừa kế theo các phƣơng thức nhƣ thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Có ba loại chính của thừa kế theo pháp luật của nhiều nƣớc đƣợc phân chia dựa trên cách mà di sản của ngƣời đã mất đƣợc truyền cho ngƣời thừa kế: (1) Thừa kế theo di chúc là loại thừa kế mà ngƣời qua chết để lại một di chúc (hay một bản ghi có giá trị pháp lý khác) xác định việc phân chia di sản cho các ngƣời thừa kế cụ thể. Di chúc có thể chỉ định rõ ràng về việc phân phối tài sản, quyền lợi, và các điều kiện liên quan.
(2) Thừa kế theo pháp luật khi ngƣời qua đời không để lại di chúc hợp lệ, hoặc di chúc không xác định đầy đủ về việc phân chia di sản, thì các quy định pháp luật về thừa kế sẽ áp dụng. Những quy định này thƣờng đƣợc quy định trong luật di sản của từng quốc gia, và xác định việc chuyển nhƣợng tài sản, quyền lợi theo các quan hệ gia đình nhất định. (3) Thừa kế theo ý chí hay thừa kế hỗn hợp là một hình thức thừa kế phức tạp hơn, trong đó di sản đƣợc chuyển nhƣợng dựa trên cả di chúc và các quy định pháp luật. Điều này có thể xảy ra khi di chúc không hoàn toàn hợp 5 lệ, hoặc có mâu thuẫn giữa các quy định trong di chúc và luật di sản.
Tuy nhiên thừa kế hỗn hợp này không đƣợc đặt ra ở Việt Nam. Nhƣng có một thực tế là di chúc phải nhƣờng bƣợc cho trƣờng hợp luật định về thừa kế không phụ thuộc vào di chúc. Khi giải quyết trƣờng hợp này chắc chắc có sự kết hợp giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật1. Các loại thừa kế này thƣờng đƣợc quy định rõ ràng trong luật pháp của từng quốc gia, nhằm bảo đảm sự công bằng và xác định rõ ràng việc chuyển nhƣợng tài sản và quyền lợi của ngƣời đã mất đến ngƣời thừa kế.
Phạm vi của chế định thừa kế Con ngƣời sống luôn cần có tài sản. Vì vậy sự tồn tại và phát triển của con ngƣời luôn luôn gắn liền với tài sản nhƣ đất đai, nhà cửa, phƣơng tiện giao thông, gạo nƣớc, quần áo, đồ đạc trong nhà và những tài sản vô hình khác. Các tài sản nhƣ vậy đƣợc sử dụng để đáp ứng các nhu cầu sống của con ngƣời. Do có nhiều hoạt động sống khác nhau và nhiều nhu cầu khác nhau trong đời sống, nên con ngƣời cần tới nhiều dạng tài sản khác nhau.
Khi một ngƣời chết đi, tài sản còn lại của ngƣời này không mất đi tác dụng đáp ứng nhu cầu sống của ngƣời khác. Vì vậy những tài sản đó cần phải đƣợc khai thác cho những ngƣời còn sống. Vậy ai là ngƣời đƣợc quyền đối với các tài sản đó. Một khối lƣợng tài sản nhất định không thể chia đồng đều cho tất cả các thành viên cộng đồng.
Chế định thừa kế ra đời để thực hiện việc chuyển dịch tài sản nhƣ vậy sang cho ngƣời hoặc một số ngƣời nào đó đang còn sống. Thừa kế là một khái niệm căn bản chỉ sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản từ ngƣời chết sang cho ngƣời còn sống. Vì vậy để bảo đảm cho quyền để lại di sản thừa kế và quyền đƣợc nhận thừa kế của công dân pháp luật cho ra đời một chế định pháp luật cũng có tên gọi là chế định thừa kế. Khái niệm thừa kế là một khái niệm căn bản và quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam.
Và chế định thừa 1 Ngô Huy Cƣơng (2023), Luật tài sản cho cao học, Bài giảng điện tử. 6 kế này quy định về việc chuyển giao tài sản của ngƣời chết cho những ngƣời còn sống và quyền và nghĩa vụ có liên quan của họ. Vậy có thể định nghĩa: Thừa kế là quá trình chuyển giao tài sản, quyền sở hữu tài sản của ngƣời chết để lại di sản cho ngƣời hoặc những ngƣời còn sống (ngƣời thừa kế) và làm phát sinh ra các quyền và nghĩa vụ liên quan. Gắn với thừa kế là khái niệm “di sản thừa kế” mà thƣờng đƣợc hiểu là bao gồm tài sản thuộc sở hữu của ngƣời chết và các quyền và nghĩa vụ liên quan về tài sản.
Ngƣời để lại di sản luôn đƣợc thừa nhận có quyền để lại di chúc để chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản của mình cho ngƣời còn sống sau khi chết. Di chúc là văn bản pháp lý thể hiện ý chí của ngƣời lập di chúc về việc phân chia di sản của mình nhƣ trên đã phân tích về các căn cứ làm phát sinh quan hệ thừa kế. Nếu ngƣời để lại di sản không lập di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, tài sản sẽ đƣợc chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Pháp luật thƣờng quy định về diện thừa kế và các hàng thừa kế, cũng nhƣ quyền và nghĩa vụ của ngƣời thừa kế.
Quá trình dịch chuyển tài sản của ngƣời chết sang cho ngƣời hoặc một số ngƣời còn sống đƣợc hình thành và tồn tại trong bất kỳ xã hội nào kể từ khi con ngƣời biết tới khái niệm quyền sở hữu tài sản và đƣợc điều chỉnh bởi tập quán hoặc pháp luật do Nhà nƣớc ban hành theo các giai đoạn lịch sử khác nhau. Tuy nhiên thừa kế có thể đƣợc nghiên cứu ở ba phƣơng diện khác nhau- đó là phƣơng diện pháp lý; phƣơng diện kinh tế; và phƣơng diện lịch sử. + Ở phương diện pháp lý, nhƣ trên đã nói: Thừa kế là một chế định không thể thiếu của luật dân sự mà trong đó có các quy định về khái niệm, phân loại, chủ thể và các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan tới di sản và thừa hƣởng di sản của ngƣời chết. Tất nhiên các quy định này không chỉ tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn nằm ở các loại nguồn khác nhƣ phong tục, tập quán, án lệ, lẽ công bằng,.
Tuy nhiên ở 7 nhnwgx nƣớc theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa thì Bộ luật Dân sự là nơi chứa đựng chủ yếu và toàn diện các quy định đó. + Ở phương diện kinh tế, thừa kế đƣợc xem nhƣ một sự chuyển dịch tài sản từ thế hệ này sang thế hệ khác để tiếp nối sử dụng phục vụ cho nhu cầu sống của con ngƣời2. Nhƣ vậy cái chết của con ngƣời không phải là hết mà tài sản của ngƣời chết vẫn đƣợc sử dụng cho sự phát triển của kinh tế- xã hội nói chung, vẫn có ích. + Ở phương diện lịch sử, thừa kế đƣợc xem xét gắn với từng giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài từ sự phát triển của các dạng tài sản cho tới sự phát triển của khoa học - công nghệ và hình thái kinh tế- xã hội.
Tuy nhiên đề án này chỉ nghiên cứu về các vấn đề pháp lý liên quan, có thể tùy từng nội dung nghiên cứu đề cập tới kinh tế và lịch sử liên quan. Thừa kế từ trƣớc tới nay không chỉ là việc chuyển giao tài sản mà còn là việc duy trì và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân và gia đình. Chế định thừa kế góp phần ổn định xã hội, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và đảm bảo công bằng trong phân chia tài sản sau khi ngƣời để lại di sản qua đời. Thừa kế trong pháp luật là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về các quy định pháp luật cũng nhƣ các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.
Nếu tƣ liệu tiêu dùng là phƣơng tiện sinh hoạt thì tƣ liệu sản xuất là phƣơng tiện để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài sản chính là phƣơng tiện duy trì cuộc sống của con ngƣời. Khi sống, con ngƣời sử dụng tài sản để thoả mãn cho các nhu cầu trong cuộc sống thì khi chết, những tài sản còn hiện hữu này sẽ đƣợc dịch chuyển cho ngƣời còn sống để tài sản đƣợc tiếp tục sử dụng phục vụ cho cuộc sống. Việc dịch chuyển tài sản nói trên từ thế hệ này sang thế hệ khác kế tiếp thƣờng đƣợc gọi là thừa kế. 2 Xem Ngô Huy Cƣơng (2023), Các vấn đề pháp lý nền tảng của chế định thừa kế, Bài giảng điện tử cho học viên cao học.
8 Nói tóm lại, thừa kế là một chế định bao gồm các vấn đề pháp lý chủ yếu sau: + Thứ nhất, quyền thừa kế và các nguyên tắc của luật thừa kế; + Thứ hai, di sản thừa kế; + Thứ ba, thừa kế theo di chúc; + Thứ tư, thừa kế theo pháp luật; + Thứ năm, chia thừa kế. Vậy quyền và nghĩa vụ của ngƣời thừa kế có thể xuất hiện trong các mảng vấn đề pháp lý nói trên. Về mặt pháp lý, chế định thừa kế đƣợc thiết lập theo những nguyên tắc sau: + Nguyên tắc bình đẳng nói lên rằng mọi ngƣời đều hoàn toàn bình đẳng trong việc hƣởng quyền để lại di sản thừa kế và hƣởng di sản thừa kế. Vì vậy những ngƣời thừa kế đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ liên quan tới thừa kế, không phân biệt giới tính, tuổi tác, tôn giáo, hay quốc tịch.
+ Nguyên tắc tự do lập di chúc để lại tài sản thừa kế nói lên rằng ngƣời để lại di sản có quyền tự do lập di chúc, miễn là không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội. + Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thừa kế nói lên rằng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời thừa kế, đặc biệt là ngƣời chƣa thành niên, ngƣời già yếu, và ngƣời không có khả năng lao động.