Chương 1:Tổng quan về rủi ro tín dung và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thương mại v_. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu v Chương 3: Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rui ro tín dụng tại ngân hàng NHNo&PTNT chỉ nhánh Lao Cai Y — Chương 4: Một số giải pháp quản trị rủi ro tin dụng tại NHNo&PTNT chỉ nhánh Lào Cai CHUONG 1: TONG QUANVE RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUAN TRI RUI RO TIN DUNG TRONG HOAT DONG KINH DOANH TAI NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Tổng quan tinh hình nghiên cứu Ở trong nước, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý rủi ro tín dụng trong NHTM như: Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tuấn Anh (2004), Bùi Thị Thu Lan (2005), Vũ Hữu Biên (2010) nghiên cứu về vấn đề nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thành Đô (2005), Mạc Đình Khuyến (2006), Nguyễn Thị Vân Huyền (2010), Cù Hoài Thanh (2010) nghiên cứu về các giải pháp nhằm hạn chế và xử lý nợ xấu tai Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Tuy nhiên các công trình này chưa đi sâu nghiên cứu cách nhận biết, đo lường, xây dựng giới hạn tỷ lệ nợ xấu ap dụng cho từng ngân hàng đến việc tiếp cận cách tính trích lập dự phòng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Luận án “ Đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM CP trên dia bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Lê Tan Phước (2007). Tác giả đã làm rõ thêm các khái niệm và lý luận trong việc đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại các ngân hàng. Bên cạnh đó tác giả còn đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển của nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới từ đó đề ranhững giải pháp khả thi góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM CP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên trong luận án, tác giả vẫn chưa đưa ra được những bất cập trong hoạt động quản lý rủi ro, vốn được coi là một nhân tố rat quan trọng góp phan đảm bảo an toàn tín dụng cho hệ thống ngân hàng.
Nghiên cứu cua tác giả Phạm Quý Hoa (1994) đã chi ra những giải pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Thủy (1996) đề cập tới việc hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam. Nhu vậy, hai nghiên cứu nay đều đặt ra đối tượng nghiên cứu là van đề rủi ro tín dụng của ngân hang, từ đó phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam và đưa ra các giải pháp hạn chế và phòng ngừa. Tuy nhiên, hai nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra một mô hình quản lý rủi ro tín dụng cụ thể.
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012) với đề tài: “ Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam trong quá trình hội nhập”. Tác giả đã đưa ra quan niệm về chất lượng tín dụng ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời trên cơ sở nguồn số liệu thứ cấp của VCB từ năm 2006 — 2010, luận án đã phản ánh thực trạng chất lượng tín dụng của VCB trong điều kiện hội nhập. Tác giả cũng rất thành công trong việc áp dụng mô hình hồi quy logistic để kiểm định mô hình và giả thiết nghiên cứu trong việc phân tích các yếu tô ảnh hưởng đến xéphang tín dung của khách hàng pháp nhân tại VCB - chi nhánh Da Nẵng.
Tác giả cũng đề xuất khả năng ứng dụng mô hình đó trong công tác nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng. Ngoài ra, van đề rủi ro tín dụng còn được đề cập ở một sé công trình nghiên cứu khoa học khác. Đề tài nghiên cứu cấp Viện của Lê Thị Kim Nga (2001) về “Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam” đã giải thích những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng và đề xuất khung quản lý rủi ro tín dụng cho các NHTM Việt Nam. Và đã có một số công trình nghiên cứu sâu về hoạt động tín dụng, quản trị RRTD đăng trên các tạp chí như: TS.
Trần Huy Hoang, Hạn chế nguy cơ rủi ro hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam, Phat triển kinh tế, tháng 12 năm 2004.TS Nguyễn Dinh Tự, Tiếp cận dé giảm thiéu rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại, Tạp chí Ngân hàng, Số chuyên đề năm 2005. Trần Trung Tường, Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học đào tạo Ngân hàng, trang 39- 43, số 09, tháng 09/2005. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập về quản trị rủi ro tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Lao Cai, đặc biệt nghiên cứu vấn đề này theo cách tiếp cận khoa học quản lý kinh tế. Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Lao Cai 1.1 Hoạt động tin dung tại ngân hang thương mai 1.1 Khải niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là hoạt động mang tính khởi thủy, tính bản chất của ngân hàng, là cơ sở chủ yếu dé đánh giá chất lượng hoạt động ngân hàng.
Thuật ngữ "Tín dụng" (credit) xuất phát từ chữ Latinh là Credo nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Xét về khía cạnh tiền tệ, tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn trả vào một ngày xác định trong tương lai và được định nghĩa một cách đầy đủ như sau: "Tín dụng là quan hệ chuyên nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng dé sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban dau." Xét về khía cạnh chức năng hoạt động của ngân hàng, tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác). Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.12 Đặc trưng cua tín dụng ngân hang Quan hệ tín dụng có bốn đặc trưng cơ bản là: Lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và an chứa nhiều khả năng rủi ro.
- Lòng tin: Người ta chỉ cho vay khi họ tin tưởng. Người di vay có ý muốn trả nợ và có khả năng trả nợ, đồng thời người ta tin rằng người sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu được lượng giá tri lớn hơn, đạt hiệu qua sau một thời gian nhất định. Nghĩa là, người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng tiền vay có hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc có nguồn thu khác (đối với người tiêu dùng) thì người đi vay mới có khả năng trả nợ cho người cho vay. Đồng thời, người cho vay cũng tin tưởng người đi vay có ý muốn trả nợ thì quan hệ tín dụng mới xảy ra.
- Tính hoàn trả: Đối với quan hệ tín dụng thì đây là đặc trưng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tàichính khác. Mặt khác, không có sự hoàn trả thì đó là một quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Không có sự hoàn trả sẽ làm cho người cho vay không thu hồi được vốn, dẫn đến thua lỗ, phá sản, đi ngược lại mục đích của kinh doanh. - Tính thời hạn: Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, người cho vay tin tưởng người di vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tương lai mà hai bên đã thỏa thuận.
Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dung theo thỏa thuận, người di vay phải hoản trả cho người cho vay. - Tín dụng ấn chứa nhiều khả năng rủi ro: Do sự bất cân xứng về thông tin, người cho vay không hiểu rõ về người đi vay. Một mối quan hệ tin dụng được gọi là hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được day đủ cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn. Tuy nhiên, không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy mà vẫn không hiếm trường hợp người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ.
Đó là trường hợp khi đến thời hạn, người đi vay không thê thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn vay dẫn đến khoản nợ bị quá hạn. Nợ quá hạn là sự báo hiệu của rủi ro tín dụng.13 Các loại hình tín dụng ngân hàng * Căn cứ vào thời hạn cho vay - Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dưới 12 tháng, thường được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Có hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại tín dụng này chủ yếu được sử dụng dé đầu tư mua sắm tai sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh đoanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ.
Đây là loại tín dụng có mức rủi ro cao. - Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên 60 tháng. Loại hình tín dụng này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu đài hạn như: xây dựng nhà xưởng, các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro rat cao.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cấp cho các chủ thê kinh tế dé tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa. - Tin dụng tiêu dùng: Là loại tin dụng đáp ứng nhu cau tiêu ding cá nhân như mua săm nhà cửa, phương tiện đi lại, các loại hàng hóa tiêu dùng.