CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Kháiniệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, và thông tư số 16/2013/TT-BTC ban hành ngày 08/02/2013 về việc hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận dạng như sau: “Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bao gồm cả Chi nhánh, đơn vị phụ thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng) được gọi chung là doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa”[1]. Theo Điều 3 Nghị định 56/2009 ngày 30/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 6 Bảng 1.
Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Số lao Tổng Số lao Số lao động Khu vực nguồn vốn động nguồn vốn động Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng trở Từ trên10 Từ trên20 Từ trên 200 nghiệp và thủy xuống xuống người đến tỷ đồng đến người đến sản 200người 100 tỷ đồng 300người Công nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 xây dựng xuống xuống người đến đồng đến người đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người Thương mại và 10 người trở 10 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 dịch vụ xuống xuống người đến đồng đến người đến 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: thuvienphapluat. Đặcđiểm doanh nghiệp nhỏ và vừa. - DNNVV tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế và hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Các DNNVV đều có chi phí đầu tư thấp, chủ yếu là để tận dụng lao động và nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, do vậy, các doanh nghiệp này có thể dễ dàng chuyển đổi phương án sản xuất, mặt hàng kinh doanh cũng như loại hình doanh nghiệp để nhanh chóng thu hồi vốn hoặc đem lại hiệu quả kinh tếcao[1].
- Bộmáyquảnlýgọnnhẹ,tínhnăngđộngvàlinhhoạtcaonêncácDNNVV tiết kiệm được phần lớn chi phí, và nhanh chóng đưa ra những quyết định kinh doanhkịpthời,khôngphảiquacáckhâulàmvuộtmấtcơhộikinhdoanh. - Nguồn vốn ít, năng lưc tài chính còn nhỏ bé: Do có quy mô nhỏnênhầu hết vốn kinh doanh của các DNNVV được huy động từ người thân, bạn bè. Nhìn 7 chung khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác còn hạn chế.Thông thường để huy động vốn cho kinh doanh, các doanh nghiệp này phải huy động từ các nguồn tài chính phi chính thức với lãi suất cao. Điều đó đã gây không ít khó khăn hạn chế hiệu quả kinh doanh, phát triển cũng như hoạt động của doanh nghiệp.
- Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ còn thấp, nhiều DNNVVsảnxuất thủ công hoặc sử dụng thiết bi,̣công nghệcũ,chậm cải tiến. - Trình độ marketing và bán hàng của các DNNVV còn hạn chế: chưa chủ động tìm kiếm thị trườngcũng như chủ động đưa ra chương trình marketing cho sản phẩm hànghóa. - Thiếu thông tin về thi ̣trườngđầuvào: thị trường vốn, lao động, nguyên vâṭ liêụ, thị trường tiêu thu ̣sản phẩm. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.
Rủi ro tín dụng và những biểu hiện của rủi ro tín dụng tại NHTM Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng.
Uỷ ban Basel là một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi một số Thống đốc Ngân hàng Trung ương vào năm 1975, bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng tại 10 quốc gia trên thế giới, bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Canada, Thụy Điển và Bỉ. Theo quan điểm của tổ chức này: rủi ro tín dụng được định nghĩa là những rủi ro khi khách hàng vay hay đối tác không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cam kết theo hợp đồng tíndụng.Fitch, rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Theo Hennie van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic, rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngânhàng.
Tại Việt Nam, theo định nghĩa tại Khoản 01 Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 22/04/2005 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong các tổ chức tín dụng: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo camkết”. Trong hoạt động tín dụng, khi tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào tổ chức tín dụng thu hồi về được khoản tín dụng gồm cả gốc vàlãi. Phân loại rủi ro tín dụng: - Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. 9 + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sảm đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạn rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấnđề.
- Rủi ro danh mục (Portfolio risk):là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Những biểu hiện rủi ro tín dụng ở NHTM. - Nợ có vấn đề: phản ứng rủi ro tiềm năng Khi NHTM cho khách hàng vay, quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, có thể do nhiều nguyên nhân (thiên tai hoặc địch họa, hàng hoá không tiêu thụ được) đã ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp nhưng khoản nợ đó chưa đến hạn. Các khoản nợ này sẽ được xếp vào nợ có vấnđề. Nếu muốn tránh khỏi những thiệt hại bất hợp lý này thì cán bộ tín dụng phải xác định các khoản cho vay có vấn đề ngay lập tức, nếu không thì có thể không giải quyết được vấn đề trước khi tình hình trở lên xấu hơn.
Hơn nữa,nếu có thể thực hiện các biện pháp sửa chữa thích hợp, thì nguyên nhân và mục đích của vấn đề cũng phải được xác định và giải quyết. Có rất nhiều dấu hiệu để nhận biết một khoản cho vay có vấn đề, dưới đây là một số dấu hiệu dễ nhận thấy: 10 + Hoạt động kinh doanh của người đi vay có chiều hướng không lành mạnh, có thể do ngành nghề kinh doanh của họ đang gặp rủi ro do sự thay đổi của thị trường, do sự thay đổi chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, hoặc có thể là quan hệ giao dịch với các đối tác của doanh nghiệp không thuận lợi, các đối tác tự ý bỏ hợp đồng kinh doanh với doanh nghiệp.khiến cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về tài chính. Hay trong quá trình sản xuất kinh doanh có sự tăng lên bất thường của hàng tồn kho, các khoản phải thu. Hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan như bão, lũ lụt, hoả hoạn, hạn hán hay do mất trộm.
+ Sự thay đổi trong cơ cấu quản lý kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức như thu hẹp quy mô sản xuất và chủng loại sản phẩm, công nhân nghỉ việc.Việc thực hiện công tác điều hành chuyên môn hoá kém chất lượng. Sự thay đổi này tạo tâm lý hoang mang đối với các đối tác, bạn hàng. + Người vay cố tình trì hoãn việc nộp báo cáo tài chính cho Công ty tài chính. Người vay có thái độ lưỡng lự cố tình gây chậm trễ khi xắp xếp cho cán bộ tín dụng đi thăm cơ sở sản xuất kinhdoanh.