CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng 1. Thẻ ngân hàng 1.1 Nguồn gốc ra đời và phát triển của thẻ thanh toán Thẻ ngân hàng lại ra đời một cách ngẫu nhiên vào năm 1940 với tên gọi đầu tiên là thẻ DINNERS CLUB do ý tưởng của một doanh nhân người Mỹ là Frank Mc Namara. Năm 1950 chiếc thẻ nhựa đầu tiên được phát hành, những người có thẻ DINNERS CLUB này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New York và phải chịu một khoản lệ phí hàng năm là 5USD.
Những tiện ích của chiếc thẻ ngay lập tức gây được sự chú ý và đã chinh phục một lượng đông đảo khách hàng do họ có thể mua hàng trước mà không cần phải trả tiền ngay. Còn đối với những nhà bán lẻ, tuy phải chịu mức chiết khấu là 5% nhưng doanh thu của họ tăng đáng kể do lượng khách hàng tiêu dùng tăng lên rất nhanh. Đến năm 1951, hơn 1 triệu đôla được ghi nợ, doanh số phát hành thẻ ngày càng tăng và công ty phát hành thẻ DINNERS CLUB bắt đầu có lãi. Một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra ngay sau đó đã nhanh chóng đưa thẻ trở thành một phương tiện thanh toán mang tính toàn cầu.
Năm 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là BANKAMERICARD. Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ. Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên từ Bank Card Association thành Western State Bank Card Association và tổ chức này đã liên kết với Interbank cho ra đời thẻ MASTER CHARGE, loại thẻ này đã nhanh chóng trở thành một đối thủ cạnh tranh lớn của BANKAMERICARD. Đến năm 1977, tổ chức BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USD và sau đó là tổ chức thẻ quốc tế VISA.
Năm 1979, tổ 5 chức thẻ MASTER CHARGE đổi tên thành MASTER CARD. Hiện nay, 2 tổ chức này vẫn đang là 2 tổ chức thẻ lớn mạnh và phát triển nhất trên thế giới. Tại Việt Nam, chiếc thẻ đầu tiên được chấp nhận là vào năm 1990 khi Vietcombank kí hợp đồng làm đại lí chi trả thẻ VISA với ngân hàng Pháp BFCE và đây đã là bước khởi đầu cho dịch vụ này phát triển ở Việt Nam. Ngày nay, thẻ ngân hàng đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới với những hình thức và chủng loại đa dạng, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế là VISA và MASTER, một loạt các tổ chức thẻ mang tính quốc tế khác nối tiếp xuất hiện như: JCB, American Epress, Airplus, Maestro, Eurocard,. Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ. Các ngân hàng và công ty tài chính luôn tìm cách cải thiện sao cho càng ngày thẻ càng dễ sử dụng và cung cấp những dịch vụ thanh toán tiện lợi nhất cho người tiêu dùng. Hiện nay, người sử dụng thẻ có thể sử dụng thẻ trên hầu hết các nước trên thế giới, họ không còn lo việc chuyển đổi sang đồng tiền nội địa trước khi đi ra nước ngoài.2 Khái niệm và đặc điểm cấu tạo của thẻ NHNN Việt Nam đưa ra khái niệm về thẻ ngân hàng được quy định tại “Thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng”, được ban hành theo quyết định số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016.
Theo đó, NHNN quy định: Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các Điều kiện và Điều khoản được các bên thỏa thuận. [7] Kể từ khi ra đời cho đến nay, cấu tạo của thẻ đã có những thay đổi lớn nhằm tăng độ an toàn, bảo mật, tăng khả năng ghi nhớ thông tin và tăng tính tiện dụng cho khách hàng. 6 Thẻ ngân hàng được làm bằng Plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế (85,60mm x 53,98mm x 0,76mm) và bao gồm các yếu tố: - Mặt trước của thẻ gồm: + Biểu tượng và tên của tổ chức phát hành thẻ + Bộ nhớ điện tử + Số thẻ + Thời hạn hiệu lực của thẻ + Họ và tên chủ thẻ + Thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế (nếu là thẻ quốc tế) - Mặt sau của thẻ bao gồm: + Dải băng từ: là nơi lưu trữ các dữ liệu liên quan đến chủ thẻ đã được mã hóa theo những tiêu chuẩn nhất định. + Băng chữ ký mẫu của chủ thẻ: dùng để xác định chủ thẻ trong các giao dịch thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ.
+ Mã số bảo mật thẻ: để xác định thẻ trong các giao dịch thương mại điện tử. Phân loại thẻ của ngân hàng - Phân loại theo công nghệ: có 03 loại thẻ Thẻ in nổi (Embossed Card): là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay loại thẻ này ít được sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, dễ bị làm giả mà kết hợp với các công nghệ mới như thẻ từ, thẻ thông minh. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hóa trong băng từ ở mặt sau của thẻ.
Các thông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. 7 Nhược điểm của thẻ từ là số lượng các thông tin được mã hóa không nhiều và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hóa an toàn và có thể bị ăn cắp thông tin bằng các thiết bị nối với máy tính. Thẻ thông minh (Smart card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo. Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ.
Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng tích lũy đồng thời lưu trữ cả số liệu về những lần giao dịch của chủ thẻ tại đơn vị chấp nhận thẻ. - Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ: có 02 loại thẻ. Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng, loại thẻ này hiện nay được sử dụng khá phổ biến như thẻ VISA, Master Card. Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là thẻ được phát hành bởi các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngân hàng, trong đó có nghiệp vụ phát hảnh thẻ.
- Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: có 04 loại thẻ. [7] Thẻ tín dụng (Credit card):là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Thẻ ghi nợ (Debit card):là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ. 8 Thẻ trả trước (Prepaid card):là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ.
Thẻ trả trước bao gồm: thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh). Thẻ liên kết/ thẻ đồng thương hiệu: là loại thẻ do các ngân hàng cùng liên kết với các đơn vị nhãn hàng, thương hiệu khác nhau để đưa ra sản phẩm. Chủ thẻ không chỉ được hưởng ưu đãi đặc biệt từ các đơn vị, nhãn hàng này mà còn hưởng các ưu đãi khác như một chiếc thẻ tín dụng. - Phân loại theo phạm vi lãnh thổ: có 02 loại thẻ.
Thẻ nội địa: là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia. Đồng tiền được sử dụng trong các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt phải là đồng nội tệ của quốc gia đó. Loại thẻ này chỉ do một ngân hàng điều hành nên hoạt động của nó tương đối đơn giản. Thẻ quốc tế: là thẻ mang thương hiệu của các TCTQT do các ngân hàng, tổ chức tín dụng làm đại lý phát hành.
Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất kỳ các ĐVCNT hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó. Để phát hành thẻ quốc tế, TCPHT phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của TCTQT, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do TCTQT đó ban hành. Các hoạt động kinh doanh thẻ tại NHTM [4],[5],[11] 1.Hoạt động phát hành thẻ Hoạt động phát hành thẻ của ngân hàng bao gồm các việc quản lý và triển khai toàn bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng. Về cơ bản hoạt động phát hành thẻ được thực hiện bao gồm: - Tiếp thị phát triển thẻ 9 - Thẩm định khách hàng phát hành thẻ - Cấp hạn mức tín dụng thẻ đối với thẻ tín dụng - In nổi và mã hóa thẻ - Cung cấp mã số cá nhân (PIN) cho chủ thẻ - Quản lý thông tin khách hàng - Quản lý hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng - Quản lý tình hình thu nợ của khách hàng - Cung cấp dịch vụ khách hàng - Tổ chức thanh toán bù trừ với các tổ chức thẻ quốc tế.Hoạt động thanh toán thẻ Việc triển khai hoạt động thanh toán thẻ của một ngân hàng không chỉ là thu lợi nhuận từ nguồn phí chiết khấu tính trên giá trị giao dịch thanh toán bằng thẻ từ các ĐVCNT mà còn là mong muốn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ hoàn chỉnh, một cơ sở lợi nhuận cho sử dụng thẻ.
Đối với TCTQT và các thành viên, việc khuyến khích hoạt động thanh toán thẻ thông qua mở rộng thông qua mở rộng mạng lưới ĐVCNT có ý nghĩa rất quan trọng.