Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC 1. Lý luận chung về quản trị nhân lực 1.1 Khái niệm Về khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực không còn là khái niệm mới mẻ đối với một thế giới đang phát triển mạnh mẽ đặc biệt là về kinh tế nói chung và đối với một Việt Nam đang tích cực và chủ động hội nhập cũng như phát triển nền kinh tế thị trường nói riêng. Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn còn tồn tại rất nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau về vấn đề này do nhưng mục tiêu khác nhau dẫn đến những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Theo một cách nôm na và đơn thuần nhất thì từ NHÂN được hiểu là người, LỰC là nguồn lực, là tiểm năng, là sức mạnh.
Như vậy, nhân lực chính là tiềm năng con người. “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [7, tr. Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể con người, mang ý nghĩa thiên về vật lý và sinh lý; mức độ mạnh mẽ của thể lực phụ thuộc vào cơ địa bẩm sinh của một người, chế độ ăn uống làm việc nghỉ ngơi sinh hoạt của người đó cũng như tuổi tác và giới tính. Còn trí lực được đánh giá ở sự hiểu biết, suy nghĩ, sự tiếp thu kiến thức, tài năng cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng người; đây là yếu tố mang ý nghĩa thiên về trừu tượng và tâm lý nhiều hơn.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [8, tr.
5 Theo quan điểm của Tổ chức quốc tế về lao động (ILO) thì lực lượng lao động là dân số trong đó độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp. Nhân lực đồng nghĩa với lực lượng lao động , là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng [13, tr. Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB), nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó. Ở đây, nguồn nhân lực được coi như một nguồn bên cạnh các loại vốn vật chất khác và đầu tư cho con người được đặt lên hàng đầu so với các hình thức đầu tư khác, có thể nói đây là cơ sở vững chắc cho sự phát triển lâu dài, bền vững của mỗi quốc gia.
Do đó, có thể thấy nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp và của cả đất nước. Từ đó, vai trò của quản trị nhân lực cũng được đặc biệt chú trọng trong chiến lược kinh doanh và công tác quản lý của các doanh nghiệp hiện nay, nhằm không ngừng đảm bảo số lượng, nâng cao chất lượng và điều chỉnh cơ cấu một cách hợp lý nguồn lực con người (thể lực, trí lực và tâm lực). Về khái niệm quản trị nhân lực Trước đây, công tác quản trị nhân lực chỉ giới hạn trong một số đầu việc như tuyển dụng, sa thải, tính lương/thưởng nhưng hiện nay nó đã được mở rộng ra cả về số lượng đầu việc lẫn yêu cầu công việc nhằm đáp ứng sự phát triển không ngừng cũng như đòi hỏi cấp thiết của thị trường. Những hoạt động cơ bản của quản trị nhân lực có thể kể đến là: Quản trị sử dụng nguồn nhân lực tốt giúp nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Cố gắng đáp ứng, thoả mãn nhu cầu hợp lý của nhân viên, luôn công bằng và tạo điều kiện tốt nhất có thể trong khả năng của doanh nghiệp để 6 nhân viên có thể làm việc tận tâm, đóng góp hăng say, hết sức mình cho công ty đồng thời trung thành với tổ chức. Kết hợp công tác quản trị nhân lực với triển khai các chiến lược kinh doanh để có thể đưa ra được nhưng bước tiến vững vàng, tạo sự đoàn kết và thống nhất giữa các cấp và giữa những người đồng cấp với nhau trong môi trường làm việc. Với tư cách là một trong các chức năng cơ bản của quản trị thì “quản trị nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động trong tổ chức” [10, tr. “Quản trị nhân lực được xem là một khoa học, là một nghệ thuật, là một tập hợp các hoạt động có ý thức nhằm nâng cao hiệu quả của một tổ chức, bằng cách nâng cao hiệu quả lao động của mỗi thành viên của tổ chức đó.
Nghệ thuật đó là cho những mục tiêu của tổ chức và những mong muốn của nhân viên tương hợp với nhau và cùng đạt được. Hay nói cách khác, quản trị nhân lực sẽ phải đáp ứng và thoả mãn một cách hài hoà lợi ích của cả tổ chức và các nhân viên của tổ chức đó [11, tr.2 Vai trò của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực của một tổ chức, doanh nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của tổ chức, nhất là trong nền kinh tế thị trường đang ngày càng nở rộ của nước ta hiện nay. Chính vì vậy, quản trị nhân lực cũng đóng vai trò thiết yếu, thậm chí là sống còn trong việc vận hành tổ chức và trong quá trình phát triển của doanh nghiệp; các doanh nghiệp cần đặt yếu tố con người lên hàng đầu nếu muốn làm ăn có lãi, thu lợi nhuận cao. Vai trò của nguồn nhân lực và quản trị nhân lực với mỗi tổ chức, doanh nghiệp được thể hiện qua 3 khía cạnh sau: 7 Một là, quản trị nhân lực là một trong những yếu tố cân nhắc hàng đầu trong hoạch định chiến lược của doanh nghiệp bởi nguồn nhân lực tốt chính là điều kiện tiên quyết cho quá trình phát triển và xây dựng doanh nghiệp.
Kỷ nguyên Cách mạng Công nghiệp 4.0 đòi hỏi những lao động có trình độ chuyên môn cao, đây là động lực để thúc đẩy khoa học - công nghệ phát triển; trí tuệ con người được chuyển hoá thành các thành tựu công nghệ và cũng chính con người áp dụng những thành tựu công nghệ đó vào quá trình sản xuất để sử dụng những nguồn lực khác hiệu quả hơn. Nói cách khác, nguồn nhân lực là cơ sở để phát triển lực lượng sản xuất. Từ cơ sở nguồn nhân lực, các tổ chức, doanh nghiệp xây dựng các kế hoạch, hoach định các chính sách để tìm ra định hướng phát triển tối ưu nguồn nhân lực sẵn có và thu hút những nhân lực giá trị nhằm phục vụ có hiệu quả các hoạt động của tổ chức và đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Hai là, nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu thực hiện các chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức vì vậy quản trị tốt nguồn nhân lực đồng nghĩa với việc đảm bảo lộ trình hoạt động của một doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong doanh nghiệp. Con người là nhân tố không thể thay thế được trong quá trình sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ cũng như kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất và các sản phẩm làm ra. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên không thể thiếu của các doanh nghiệp nhưng tài nguyên quan trọng hàng đầu lại là con người. Tổ chức không thể đạt được mục tiêu đề ra nếu thiếu những con người làm việc hiệu quả.
Ba là, nguồn nhân lực là tài nguyên của doanh nghiệp và của cả quốc gia. Như đã nói ở trên, xã hội càng phát triển thì vai trò của nguồn lực ngày càng lớn, chính vì thế, việc phát triển và đào tạo nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng. Tuy lực lượng lao động tại Việt Nam được đánh giá là rất dồi dào nhưng cũng cần phải biết cách khai thác và phát triển nguồn nhân lực 8 sao cho phù hợp với tình hình doanh nghiệp, bối cảnh thị trường cũng như điều kiện phát triển của quốc gia và của từng khu vực để đem lại hiệu qủa cao nhất. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, việc đặt ra yêu cầu đối với nguồn nhân lực là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, tổ chức.
Trên cơ sở đề ra những yêu cầu đối với nguồn nhân lực, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng chọn lọc các nhân sự phù hợp, xác định đúng đắn các kế hoạch thu hút cũng như đào tạo các nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời phát triển các nguồn nhân lực hiện có để đáp ứng các nhu cầu của doanh nghiệp và đạt được các mục tiêu đề ra.3 Chức năng của quản trị nhân lực Một cách khái quát, chức năng quản trị nhân lực có hai mặt đó là: Chức năng quản trị và chức năng nghiệp vụ trong quản trị nhân lực. Cán bộ nhân viên trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều có thể chia thành hai loại là: “Nhân viên quản trị” và “nhân viên nghiệp vụ”. Nhân viên quản trị có quyền hạn nhất định, có thể chỉ huy và lãnh đạo một số nhân viên khác, họ làm chức năng quản trị. Nhân viên nghiệp vụ không có quyền hạn như vậy, họ phải chấp hành những nhiệm vụ, quy định, dưới sự lãnh đạo chỉ huy điều hành của người khác, họ làm chức năng nghiệp vụ.
Có thể kể đến 4 chức năng cơ bản của quản trị nhân lực. Thứ nhất, chức năng thu hút, tuyển chọn và bố trí nhân sự. Nhóm chức năng này phục vụ cho việc đảm bảo đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp với công việc của doanh nghiệp. Để có thể tuyển được đúng người đúng việc, doanh nghiệp cần phải dựa vào kế hoạch sản xuất, kinh doang và thực trạng sử dụng nhân lực của chính doanh nghiệp để xác định được những vị trí nào còn đang bỏ trống hoặc bổ sung thêm nhân sự.