Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chỉ phívà tổ chức kế toán. quản trị chỉ phí trong doanh nghiệp ~ Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chỉ phí tại Công ty cỗ phân thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà ing. ~ Chương 3: Một số. ấn đóng góp nhằm hoàn thiện tổ chức kẻ toán quân trị chỉ phí tại Công ty cổ phần thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phổ Đà Nẵng.
TÔNG QUAN TÀI LIỆU Nhằm giúp các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tổ chức tốt công tác KTQT, ngày 12/6/2006, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 53/2006/TT- BTC. Thông tư nêu rõ nguyên tắc tổ chức thông tin KTQT không bắt buộc phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và có thể thực hiện theo những quy định nội bộ của DN nhằm xây dựng hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu cụ thể của DN. DN có quyền quyết định việc vận dụng các. chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống số kế toán, vận dụng và chỉ tiết hóa các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo KTQT cần thiết để phục vụ cho KTQT; được sử dụng mọi thông tin, số liệu của kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho KTQT.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đến vấn đẻ này như : giáo trình “Kể toán quản trƒ” của GS. Trương Bá Thanh, Phạm. Văn Dược, Bùi Xuân Trường, Đoàn Xuân Tiên. đã nghiên cứu bản chất, nội dung và vận dụng KTQT trong điều kiện ở Việt Nam.
Các giáo trì h được biên soạn trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu KTQT ở các nước có nền kinh tế phát triển; đồng thời, kết hợp những quy định trong thông tư hướng dẫn KTQT ở Việt Nam. Các vấn đẻ về KTQT được đề cập là : công tác xây dựng dự toán bộ phận và dự toán tổng thẻ trong DN; tập hợp, hạch toán chỉ phi, tính giá thành theo nhiều phương pháp; phân tích biến động chỉ phí tìm ra các nguyên nhân chênh lệch nhằm cung cấp thông tin cho việc hành, quản trị DN; cung cấp các thông tỉn thích hợp cho việc ra các quyết định; phân tích mỗi quan hệ chỉ phi — sản lượng - lợi nhuận (CVP); tổ chức bô máy KTQT. Ngay từ những năm 1990 đến nay, một số DN đã và đang vận dụng. KTQT chỉ phí vào đơn vị mình.
Tuy nhiên, vẫn còn một số DN chưa thấy được tim quan trong của KTỌT chỉ phí đối với công tác quan ly DN. Do đó, KTQT chỉ phí luôn là vấn đề mới mẻ đối với các DN Việt Nam. lý do mà nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về lý luận cũng như vận dụng. vào thực tế công tác KTQT chỉ phí trong các DN sản xuất kinh doanh ở Việt Nam với nhiều góc độ khác nhau như : Tác giả Phạm Quang (năm 2002) nghiên cứu về “Phương hướng xây dựng hệ thông báo cáo kể toán quản trị và tổ chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả Trần Văn Dung (năm 2002) nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam”, tắc giả Lê Đức Toàn (năm 2002) nghiên cứu về * Kể toán quán trị và phân tích chỉ phí sản xuất trong ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam”.
Có một số công trình nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị trong các. ngành cụ thể, như tác giả Phạm Thị Kim Vân (năm 2002) nghiên cứu về *Zổ chức kế toán quản trị chỉ phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh dụ lịch”, tác giả Nguyễn Văn Bao (năm 2002) với luận án “Nghién cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhà nước vẻ xây đựng”. Tuy đã có một số tác giả nghiên cứu về KTQT, nhưng về mặt pháp lý, KTQT chỉ được định ngl chính thức trong Luật kế toán ban hành ngày 17/06/2003, đây là lần lên KTQT được chính thức thừa nhận. Mặc dù ra đời khá muộn so với các nước có nền kinh tế phát triển, nhưng KTQT ở Việt Nam lại có cơ sở tiếp cận và ứng dụng các kỳ thuật đã được áp dụng thành côngở các nước phát triển Đề tài nghiên cứu KTQT cũng đã được nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh chọn nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (năm 2004) nghiên cứu “Hodn thiện tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp đầu khí Việt Nam”, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (năm 2004) nghiên cứu “Xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”, c giả Nguyễn Thanh Quí (năm 2004) nghiên cứu *'Xáy dựng hệ thông thông tin kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông”.
này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của kế toán quản trị và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các để tài. Pham Thị Thủy (2007) với luận án “ Xây đựng mô hình kế toán quản trị chỉ phí trong các doanh nghiệp sản xuất được phẩm Việt Nam”, trong công trình này tác giá đã xây dựng mô hình kế toán quản trị chỉ phí cho các doanh nghiệp sản xuất được phẩm Việt Nam, đó là tăng cường kiểm soát chỉ phí thông qua việc phân loại chỉ phí, lập dự toán chỉ phí, phân tích biến động chỉ phí, xác định qui mô hợp lý cho từng lô sản xuất. Tác giả Ngô Thị Hường (2010) nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chỉ phí ở Công ty Cổ phần bia Phú Minh”. Tất cả các nghiên cứu này đã khái quát được các vấn đề lý luận chung.
về KTQT chỉ phí, thấy được tầm quan trọng của KTQT chỉ phí trong việc. cung cấp thông tin về chỉ phí cho nhà quản trị DN. Các tác giả cũng nêu rõ nội dung của KTQT chỉ phí như phân loại chỉ phí, lập dự toán chỉ phí, lập các báo cáo, phân tích chỉ phí để làm cơ sở kiểm tra đánh giá chỉ phí Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chỉ phí đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về công tác tổ chức toán quản trị chỉ phí áp dụng tại Công ty cổ phần thủy sản và thương mại Thuận Phước, Đà Nẵng. Trên cơ sở kế thừa những lý luận về KTQT nói chung và tổ chức KTQT chỉ phí nói riêng, cũng như nghiên cứu thực trạng tổ chức KTQT chỉ phí tại Công ty; tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chỉ phí gắn liền với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Công ty, phù hợp với tình hình thực tế của công ty trên các nội dung phân loại chỉ phí theo yêu cầu KTQT, công tác lập dự toán chỉ phí, kiểm tra, kiểm soát chỉ phí và phân tích các thông tỉn chỉ phí phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán ‘quaint chi pl Qua các nội dung nghiên cứu này sẽ giúp cho công tác kế toán quản trị chỉ phí tại Công ty được hoàn thiện hơn.
CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ KE TOAN QUAN TRI CHI PHi VÀ TÔ CHỨC KÉ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP. TONG QUAN VE KTQT 1. Khái niệm và bản chất của KTQT a. Khái niệm Kế toán quản trị là bộ phận của hệ thống kế toán nhằm thu thập, xử 1ý, truyền đạt các thông tin về tình hình tai san, tinh hình sử dụng các nguồ lực cho hoạt động kinh doanh phục vụ cho công tác quản trị của doanh nghiệp.
Theo Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa : “Kế toán quản trị là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập bảo biểu, giải trình và thông. đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kề hoạch. theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một DN, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lÿ chặt chế các tài sản này”. Ở Việt Nam, quan điểm về TQT được thể hiện tại Luật ế toán số.
03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 như sau: ”ể toán quản trị là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quán trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. 5-7 ], Việc áp dụng KTQT tại Việt Nam được hướng dẫn tại Thông tư số 33/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng KTỌT trong doanh nghiệp. Bản chất KTQT được lập ra nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý tại DN. thông qua các báo cáo nội bộ và tham gia vào công tác quản trị tại DN : từ khâu lập kế hoạch đến điều hành, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định.
KTQT chủ yếu phục vụ các nhà quản lý đẻ ra quyết định nên không nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán. Thông tin, hình thức của các báo. cáo KTQT luôn thay đổi, tuỳ thuộc vào dạng quyết định và ý muốn chủ quan của nhà quản lý. Các thông tin của KTỌT phản ánh những sự kiện đã, dang và sắp xảy ra; những chứng từ kế toán là không bắt buộc đối với KTỌT.
tin KTQT mang tính linh hoạt, kịp thời và không chỉ thể hiện dưới hình thái giá trị mà còn dưới hình thái hiện vật hoặc các hình thái phi tiền tệ khác. Về chế độ báo cáo : KTQT buộc phải cung cấp thông tin thường xuyên, liên tục vào bắt kỳ thời điểm nào tuỳ thuộc vào yêu cầu của nhả quản. lý : đột xuất, hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Chức năng, nhiệm vụ của KTQT.
Các nhà quản trị điều hành sản xuất kinh doanh thông qua các chức. năng quản lý, còn kế toán quản trị sử dụng các phương pháp riêng để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin, đặt thông tin trong bối cảnh. của các mục tiêu đã được xác định, với các tình huồng khác nhau nhằm cung cấp thông tin thực sự hữu ích cho các chức năng quản trị. * Cung cắp thông tin cho việc lập dự toán Dự toán chỉ phí sản xuất thường được thể hiện dưới dạng các dự toán.
Đó là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách thức huy đông và sử dụng các nguồn lực đễ đạt được mục tiêu đó. Dự toán là công việc quan trong trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Dự toán là nội dung quan trọng trong chức năng quản trị.