Luận văn thạc sĩ: Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty Thuận Phước

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích kinh doanh tổ chức kế toán quản trị chi phí tại ôcng ty cổ phần thuỷ sản và thương mại thuận phước, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
114
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bí quyết tối ưu hóa nhờ tổ chức kế toán quản trị chi phí

Trong bối cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, việc tổ chức kế toán quản trị chi phí hiệu quả không còn là một lựa chọn mà là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Đặc biệt với ngành thủy sản, nơi chi phí nguyên vật liệu và sản xuất biến động liên tục, một hệ thống kế toán quản trị (KTQT) vững chắc chính là chìa khóa để tối ưu hóa lợi nhuận. Luận văn này tập trung nghiên cứu sâu về việc tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Thủy sản và Thương mại Thuận Phước (gọi tắt là Công ty Thuận Phước), một đơn vị tiêu biểu tại Đà Nẵng. Mục tiêu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Theo Luật Kế toán Việt Nam, kế toán quản trị là "việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán". Thông tin từ KTQT chi phí giúp nhà quản trị lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh chính xác. Nó không bị ràng buộc bởi các nguyên tắc kế toán tài chính cứng nhắc mà linh hoạt theo yêu cầu quản lý nội bộ, như hướng dẫn tại Thông tư số 53/2006/TT-BTC. Một hệ thống tổ chức kế toán quản trị chi phí bài bản sẽ giúp doanh nghiệp nhận diện, phân tích và kiểm soát các hoạt động phát sinh chi phí, từ đó tìm ra các phương án cắt giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.1. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị chi phí KTQT

Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận chuyên sâu của kế toán quản trị, tập trung vào việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về chi phí. Mục tiêu chính là phục vụ cho việc thực hiện các chức năng quản trị như lập dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định. Bản chất của KTQT chi phí là cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản lý nội bộ. Khác với kế toán tài chính, thông tin của KTQT chi phí không bắt buộc phải tuân thủ các chuẩn mực chung, mang tính linh hoạt, kịp thời và hướng về tương lai. Các báo cáo có thể được lập theo yêu cầu đột xuất hoặc định kỳ (hàng ngày, tuần, tháng) để đáp ứng nhu cầu ra quyết định nhanh chóng của ban lãnh đạo.

1.2. Vai trò của KTQT chi phí trong quản trị doanh nghiệp thủy sản

Đối với các doanh nghiệp ngành thủy sản như Công ty Thuận Phước, vai trò của KTQT chi phí là cực kỳ quan trọng. Ngành này có đặc thù chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn (80-90%), giá cả biến động theo mùa vụ và thị trường. KTQT chi phí giúp: (1) Xây dựng định mức chi phí cho từng sản phẩm (tôm, cá, mực đông lạnh). (2) Lập dự toán chi phí sản xuất, bán hàng và quản lý doanh nghiệp một cách khoa học. (3) Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng nguyên vật liệu, nhân công, và chi phí sản xuất chung. (4) Cung cấp thông tin thích hợp để ban lãnh đạo ra các quyết định ngắn hạn như định giá bán sản phẩm, chấp nhận đơn hàng mới, hay lựa chọn cơ cấu sản phẩm tối ưu.

II. Thách thức trong tổ chức kế toán quản trị chi phí hiện nay

Mặc dù tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí đã được thừa nhận, việc triển khai tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm cả Công ty Thuận Phước, vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Luận văn chỉ ra rằng, công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí tại công ty chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự trở thành công cụ đắc lực cho nhà quản trị. Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu một bộ phận chuyên trách về KTQT. Các công việc liên quan được thực hiện lồng ghép tại Phòng Kế hoạch, Phòng Tài chính - Kế toán, và bộ phận thống kê, dẫn đến thiếu sự chuyên môn hóa và hệ thống. Việc áp dụng các kỹ thuật KTQT hiện đại còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động để phục vụ cho kế toán tài chính. Các phương pháp phân loại khác như phân loại theo cách ứng xử (biến phí, định phí) chưa được áp dụng triệt để, gây khó khăn cho việc phân tích mối quan hệ Chi phí - Sản lượng - Lợi nhuận (CVP). Điều này làm giảm chất lượng thông tin cho việc ra các quyết định quản trị, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường.

2.1. Hạn chế trong việc phân loại chi phí tại doanh nghiệp

Thực trạng tại Công ty Thuận Phước cho thấy, công ty chủ yếu áp dụng cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động. Chi phí được chia thành chi phí sản xuất (nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung) và chi phí ngoài sản xuất (chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp). Cách phân loại này hữu ích cho việc lập báo cáo tài chính nhưng không đủ để phục vụ cho các quyết định quản trị. Việc thiếu phân loại chi phí theo cách ứng xử (biến phí và định phí) khiến việc lập dự toán linh hoạt, phân tích điểm hòa vốn và đánh giá các phương án kinh doanh trở nên khó khăn và kém chính xác.

2.2. Bất cập trong hệ thống báo cáo quản trị nội bộ

Do hệ thống tổ chức kế toán quản trị chi phí chưa hoàn thiện, các báo cáo quản trị nội bộ tại công ty còn mang nặng tính hình thức của báo cáo tài chính. Các báo cáo chưa được thiết kế để làm nổi bật các thông tin quan trọng cho việc ra quyết định, chẳng hạn như báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí, báo cáo phân tích biến động chi phí, hay báo cáo so sánh giữa chi phí thực tế và định mức. Thông tin thường được cung cấp một cách chậm trễ, làm giảm tính hữu ích cho các nhà quản trị trong việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày.

III. Phương pháp phân loại lập dự toán chi phí sản xuất tối ưu

Để hoàn thiện công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí, bước đi nền tảng là phải xây dựng một hệ thống phân loại chi phí khoa học và áp dụng quy trình lập dự toán chi phí hiệu quả. Luận văn đề xuất các phương pháp tiên tiến giúp Công ty Thuận Phước có cái nhìn sâu sắc hơn về cấu trúc chi phí. Thay vì chỉ dừng lại ở phân loại theo chức năng, công ty cần áp dụng thêm phương pháp phân loại chi phí theo cách ứng xử. Việc tách bạch rõ ràng giữa biến phí (chi phí thay đổi theo sản lượng) và định phí (chi phí không đổi) là cơ sở để thực hiện phân tích CVP, xác định điểm hòa vốn và lập các dự toán linh hoạt. Bên cạnh đó, việc xây dựng định mức chi phí cho từng loại sản phẩm (nguyên vật liệu, nhân công) là vô cùng cần thiết. Dựa trên định mức và kế hoạch sản xuất, công ty có thể lập dự toán chi phí chi tiết cho từng khoản mục: dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp và dự toán chi phí sản xuất chung. Quy trình này không chỉ giúp hoạch định nguồn lực mà còn tạo ra một tiêu chuẩn để so sánh và kiểm soát chi phí thực tế phát sinh.

3.1. Kỹ thuật phân loại chi phí theo cách ứng xử Biến phí Định phí

Phân loại chi phí theo cách ứng xử chia chi phí thành ba loại chính: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Biến phí là những chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động, ví dụ như chi phí nguyên liệu tôm, cá. Định phí là những chi phí không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong một phạm vi phù hợp, như chi phí khấu hao nhà xưởng, lương nhân viên quản lý. Chi phí hỗn hợp chứa cả hai yếu tố trên. Việc áp dụng các phương pháp như cực đại - cực tiểu hoặc bình phương bé nhất để tách chi phí hỗn hợp thành biến phí và định phí sẽ cung cấp dữ liệu đầu vào chính xác cho các phân tích quản trị quan trọng.

3.2. Quy trình xây dựng định mức và lập dự toán chi phí toàn diện

Quy trình bắt đầu bằng việc xây dựng định mức chi phí, tức là chi phí dự tính để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Tại Công ty Thuận Phước, cần có định mức tiêu hao nguyên vật liệu (số kg tôm/tấn thành phẩm), định mức giờ công lao động. Dựa trên kế hoạch tiêu thụ và sản xuất, doanh nghiệp sẽ lập các dự toán chi phí bộ phận. Dự toán chi phí sản xuất bao gồm dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và sản xuất chung. Các dự toán khác như dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp cũng được xây dựng tương tự. Một hệ thống dự toán toàn diện sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động và là cơ sở để kiểm soát chi phí hiệu quả.

IV. Hướng dẫn tính giá thành và kiểm soát chi phí hiệu quả nhất

Sau khi đã tập hợp chi phí, việc tính giá thành sản phẩmkiểm soát chi phí là hai nội dung cốt lõi của tổ chức kế toán quản trị chi phí. Việc lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc định giá bán và đánh giá hiệu quả kinh doanh. Đối với Công ty Thuận Phước, có thể áp dụng phương pháp tính giá thành theo công việc (đơn đặt hàng) hoặc tính giá thành theo quy trình sản xuất. Luận văn cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát chi phí thông qua phân tích biến động. Đây là quá trình so sánh chi phí thực tế phát sinh với chi phí dự toán hoặc định mức đã xây dựng. Việc phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu (biến động về giá và biến động về lượng) và chi phí nhân công (biến động về đơn giá và biến động về năng suất) giúp nhà quản trị xác định nguyên nhân của sự chênh lệch. Từ đó, có thể quy trách nhiệm cho các bộ phận liên quan và đưa ra các hành động khắc phục kịp thời, đảm bảo chi phí luôn nằm trong tầm kiểm soát.

4.1. Các phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm

Đối tượng tập hợp chi phí cần được xác định rõ ràng, có thể là từng phân xưởng, từng quy trình công nghệ hoặc từng đơn đặt hàng. Tại Công ty Thuận Phước, đối tượng tập hợp chi phí là các phân xưởng chế biến. Về phương pháp tính giá thành, ngoài phương pháp toàn bộ (tính cả biến phí và định phí sản xuất vào giá thành), công ty nên xem xét áp dụng phương pháp trực tiếp (chỉ tính biến phí sản xuất vào giá thành). Phương pháp trực tiếp cung cấp thông tin hữu ích hơn cho các quyết định ngắn hạn vì nó làm nổi bật vai trò của số dư đảm phí.

4.2. Kỹ thuật phân tích biến động để kiểm soát chi phí sản xuất

Đây là công cụ quản lý mạnh mẽ. Ví dụ, để kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sẽ phân tích hai biến động chính: Biến động về giá (chênh lệch giữa giá mua thực tế và giá định mức) và biến động về lượng (chênh lệch giữa lượng sử dụng thực tế và lượng định mức cho phép). Phân tích này giúp xác định liệu sự gia tăng chi phí là do phòng mua hàng mua nguyên liệu giá cao hay do phân xưởng sản xuất sử dụng lãng phí. Tương tự, việc phân tích biến động chi phí nhân công và sản xuất chung cũng cung cấp những thông tin quản trị quý giá, giúp doanh nghiệp liên tục cải tiến và nâng cao hiệu quả.

V. Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí 2024

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, việc hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí là một yêu cầu cấp thiết đối với Công ty Thuận Phước. Dựa trên phân tích thực trạng và cơ sở lý luận, luận văn đề xuất một lộ trình cải tiến toàn diện. Giải pháp trọng tâm là xây dựng một mô hình tổ chức bộ máy kế toán phù hợp, có thể là mô hình hỗn hợp, trong đó tách riêng bộ phận kế toán quản trị chi phí và giá thành. Nhân sự cho bộ phận này cần được đào tạo chuyên sâu về các kỹ thuật KTQT hiện đại. Bên cạnh đó, công ty cần ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng phần mềm kế toán có các module chuyên dụng cho KTQT để tự động hóa việc thu thập, xử lý dữ liệu và tạo lập báo cáo. Việc xây dựng một hệ thống báo cáo quản trị linh hoạt, đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của các cấp quản lý là yếu tố then chốt. Cuối cùng, thông tin từ KTQT chi phí phải được tích hợp chặt chẽ vào quy trình ra quyết định kinh doanh, từ việc định giá sản phẩm, lựa chọn thị trường đến các quyết định đầu tư.

5.1. Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị phù hợp

Luận văn đề xuất Công ty Thuận Phước có thể áp dụng mô hình hỗn hợp. Theo mô hình này, một bộ phận chuyên trách về KTQT chi phí và giá thành được thành lập trong phòng Tài chính - Kế toán. Bộ phận này sẽ chịu trách nhiệm xây dựng định mức, lập dự toán, phân tích biến động chi phí và chuẩn bị các báo cáo quản trị chuyên sâu. Các kế toán viên khác vẫn thực hiện lồng ghép một số nhiệm vụ KTQT đơn giản. Mô hình này vừa đảm bảo tính chuyên môn hóa, vừa tiết kiệm chi phí so với việc thành lập một phòng KTQT hoàn toàn riêng biệt, phù hợp với quy mô của công ty.

5.2. Ứng dụng thông tin KTQT vào việc ra quyết định kinh doanh

Thông tin chi phí thích hợp phải là nền tảng cho mọi quyết định kinh doanh. Ví dụ, khi nhận một đơn hàng xuất khẩu mới với giá đề nghị thấp hơn giá bán thông thường, nhà quản trị cần phân tích chi phí chênh lệch. Nếu doanh thu từ đơn hàng lớn hơn biến phí phát sinh thêm, việc chấp nhận đơn hàng vẫn mang lại lợi nhuận, miễn là công ty còn năng lực sản xuất nhàn rỗi. Tương tự, các phân tích về số dư đảm phí, điểm hòa vốn, và chi phí cơ hội phải được sử dụng thường xuyên để lựa chọn cơ cấu sản phẩm, quyết định sản xuất hay mua ngoài, và các quyết định chiến lược khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh tổ chức kế toán quản trị chi phí tại ôcng ty cổ phần thuỷ sản và thương mại thuận phước thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chỉ phívà tổ chức kế toán. quản trị chỉ phí trong doanh nghiệp ~ Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chỉ phí tại Công ty cỗ phân thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà ing. ~ Chương 3: Một số. ấn đóng góp nhằm hoàn thiện tổ chức kẻ toán quân trị chỉ phí tại Công ty cổ phần thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phổ Đà Nẵng.

TÔNG QUAN TÀI LIỆU Nhằm giúp các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tổ chức tốt công tác KTQT, ngày 12/6/2006, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 53/2006/TT- BTC. Thông tư nêu rõ nguyên tắc tổ chức thông tin KTQT không bắt buộc phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và có thể thực hiện theo những quy định nội bộ của DN nhằm xây dựng hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu cụ thể của DN. DN có quyền quyết định việc vận dụng các. chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống số kế toán, vận dụng và chỉ tiết hóa các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo KTQT cần thiết để phục vụ cho KTQT; được sử dụng mọi thông tin, số liệu của kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho KTQT.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đến vấn đẻ này như : giáo trình “Kể toán quản trƒ” của GS. Trương Bá Thanh, Phạm. Văn Dược, Bùi Xuân Trường, Đoàn Xuân Tiên. đã nghiên cứu bản chất, nội dung và vận dụng KTQT trong điều kiện ở Việt Nam.

Các giáo trì h được biên soạn trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu KTQT ở các nước có nền kinh tế phát triển; đồng thời, kết hợp những quy định trong thông tư hướng dẫn KTQT ở Việt Nam. Các vấn đẻ về KTQT được đề cập là : công tác xây dựng dự toán bộ phận và dự toán tổng thẻ trong DN; tập hợp, hạch toán chỉ phi, tính giá thành theo nhiều phương pháp; phân tích biến động chỉ phí tìm ra các nguyên nhân chênh lệch nhằm cung cấp thông tin cho việc hành, quản trị DN; cung cấp các thông tỉn thích hợp cho việc ra các quyết định; phân tích mỗi quan hệ chỉ phi — sản lượng - lợi nhuận (CVP); tổ chức bô máy KTQT. Ngay từ những năm 1990 đến nay, một số DN đã và đang vận dụng. KTQT chỉ phí vào đơn vị mình.

Tuy nhiên, vẫn còn một số DN chưa thấy được tim quan trong của KTỌT chỉ phí đối với công tác quan ly DN. Do đó, KTQT chỉ phí luôn là vấn đề mới mẻ đối với các DN Việt Nam. lý do mà nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về lý luận cũng như vận dụng. vào thực tế công tác KTQT chỉ phí trong các DN sản xuất kinh doanh ở Việt Nam với nhiều góc độ khác nhau như : Tác giả Phạm Quang (năm 2002) nghiên cứu về “Phương hướng xây dựng hệ thông báo cáo kể toán quản trị và tổ chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả Trần Văn Dung (năm 2002) nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam”, tắc giả Lê Đức Toàn (năm 2002) nghiên cứu về * Kể toán quán trị và phân tích chỉ phí sản xuất trong ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam”.

Có một số công trình nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị trong các. ngành cụ thể, như tác giả Phạm Thị Kim Vân (năm 2002) nghiên cứu về *Zổ chức kế toán quản trị chỉ phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh dụ lịch”, tác giả Nguyễn Văn Bao (năm 2002) với luận án “Nghién cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhà nước vẻ xây đựng”. Tuy đã có một số tác giả nghiên cứu về KTQT, nhưng về mặt pháp lý, KTQT chỉ được định ngl chính thức trong Luật kế toán ban hành ngày 17/06/2003, đây là lần lên KTQT được chính thức thừa nhận. Mặc dù ra đời khá muộn so với các nước có nền kinh tế phát triển, nhưng KTQT ở Việt Nam lại có cơ sở tiếp cận và ứng dụng các kỳ thuật đã được áp dụng thành côngở các nước phát triển Đề tài nghiên cứu KTQT cũng đã được nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh chọn nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (năm 2004) nghiên cứu “Hodn thiện tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp đầu khí Việt Nam”, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (năm 2004) nghiên cứu “Xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”, c giả Nguyễn Thanh Quí (năm 2004) nghiên cứu *'Xáy dựng hệ thông thông tin kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông”.

này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của kế toán quản trị và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các để tài. Pham Thị Thủy (2007) với luận án “ Xây đựng mô hình kế toán quản trị chỉ phí trong các doanh nghiệp sản xuất được phẩm Việt Nam”, trong công trình này tác giá đã xây dựng mô hình kế toán quản trị chỉ phí cho các doanh nghiệp sản xuất được phẩm Việt Nam, đó là tăng cường kiểm soát chỉ phí thông qua việc phân loại chỉ phí, lập dự toán chỉ phí, phân tích biến động chỉ phí, xác định qui mô hợp lý cho từng lô sản xuất. Tác giả Ngô Thị Hường (2010) nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chỉ phí ở Công ty Cổ phần bia Phú Minh”. Tất cả các nghiên cứu này đã khái quát được các vấn đề lý luận chung.

về KTQT chỉ phí, thấy được tầm quan trọng của KTQT chỉ phí trong việc. cung cấp thông tin về chỉ phí cho nhà quản trị DN. Các tác giả cũng nêu rõ nội dung của KTQT chỉ phí như phân loại chỉ phí, lập dự toán chỉ phí, lập các báo cáo, phân tích chỉ phí để làm cơ sở kiểm tra đánh giá chỉ phí Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chỉ phí đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về công tác tổ chức toán quản trị chỉ phí áp dụng tại Công ty cổ phần thủy sản và thương mại Thuận Phước, Đà Nẵng. Trên cơ sở kế thừa những lý luận về KTQT nói chung và tổ chức KTQT chỉ phí nói riêng, cũng như nghiên cứu thực trạng tổ chức KTQT chỉ phí tại Công ty; tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chỉ phí gắn liền với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Công ty, phù hợp với tình hình thực tế của công ty trên các nội dung phân loại chỉ phí theo yêu cầu KTQT, công tác lập dự toán chỉ phí, kiểm tra, kiểm soát chỉ phí và phân tích các thông tỉn chỉ phí phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán ‘quaint chi pl Qua các nội dung nghiên cứu này sẽ giúp cho công tác kế toán quản trị chỉ phí tại Công ty được hoàn thiện hơn.

CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ KE TOAN QUAN TRI CHI PHi VÀ TÔ CHỨC KÉ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP. TONG QUAN VE KTQT 1. Khái niệm và bản chất của KTQT a. Khái niệm Kế toán quản trị là bộ phận của hệ thống kế toán nhằm thu thập, xử 1ý, truyền đạt các thông tin về tình hình tai san, tinh hình sử dụng các nguồ lực cho hoạt động kinh doanh phục vụ cho công tác quản trị của doanh nghiệp.

Theo Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa : “Kế toán quản trị là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập bảo biểu, giải trình và thông. đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kề hoạch. theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một DN, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lÿ chặt chế các tài sản này”. Ở Việt Nam, quan điểm về TQT được thể hiện tại Luật ế toán số.

03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 như sau: ”ể toán quản trị là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quán trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. 5-7 ], Việc áp dụng KTQT tại Việt Nam được hướng dẫn tại Thông tư số 33/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng KTỌT trong doanh nghiệp. Bản chất KTQT được lập ra nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý tại DN. thông qua các báo cáo nội bộ và tham gia vào công tác quản trị tại DN : từ khâu lập kế hoạch đến điều hành, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định.

KTQT chủ yếu phục vụ các nhà quản lý đẻ ra quyết định nên không nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán. Thông tin, hình thức của các báo. cáo KTQT luôn thay đổi, tuỳ thuộc vào dạng quyết định và ý muốn chủ quan của nhà quản lý. Các thông tin của KTỌT phản ánh những sự kiện đã, dang và sắp xảy ra; những chứng từ kế toán là không bắt buộc đối với KTỌT.

tin KTQT mang tính linh hoạt, kịp thời và không chỉ thể hiện dưới hình thái giá trị mà còn dưới hình thái hiện vật hoặc các hình thái phi tiền tệ khác. Về chế độ báo cáo : KTQT buộc phải cung cấp thông tin thường xuyên, liên tục vào bắt kỳ thời điểm nào tuỳ thuộc vào yêu cầu của nhả quản. lý : đột xuất, hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Chức năng, nhiệm vụ của KTQT.

Các nhà quản trị điều hành sản xuất kinh doanh thông qua các chức. năng quản lý, còn kế toán quản trị sử dụng các phương pháp riêng để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin, đặt thông tin trong bối cảnh. của các mục tiêu đã được xác định, với các tình huồng khác nhau nhằm cung cấp thông tin thực sự hữu ích cho các chức năng quản trị. * Cung cắp thông tin cho việc lập dự toán Dự toán chỉ phí sản xuất thường được thể hiện dưới dạng các dự toán.

Đó là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách thức huy đông và sử dụng các nguồn lực đễ đạt được mục tiêu đó. Dự toán là công việc quan trong trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Dự toán là nội dung quan trọng trong chức năng quản trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ