Luận văn: Tổ chức báo cáo kế toán quản trị tại Công ty CP An Hưng - Phú Yên

Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh phân tích báo cáo kế toán quản trị tại công ty cổ phần An Hưng Phú Yên, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn KTQT tại Công ty An Hưng Phú Yên

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Tâm đi sâu vào việc tổ chức báo cáo kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần An Hưng - Phú Yên (ANHUCO), một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc. Bối cảnh hội nhập kinh tế đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp phải có công cụ quản lý hiệu quả để đối phó với cạnh tranh. Kế toán quản trị (KTQT) nổi lên như một công cụ không thể thiếu, không chỉ ghi nhận sự kiện đã qua mà còn hướng tới tương lai, hỗ trợ nhà quản lý trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định. Luận văn nhấn mạnh rằng báo cáo kế toán quản trị là sản phẩm cuối cùng, cung cấp thông tin đa chiều cho quản trị nội bộ. Dựa trên việc kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây như của Nguyễn Tấn Thành (2004) về ngành xây dựng hay Nguyễn Thị Kim Dung (2009) tại Công ty May 10, đề tài này tập trung phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể cho một doanh nghiệp sản xuất may mặc. Mục tiêu chính là xây dựng một hệ thống báo cáo KTQT hoàn chỉnh, giúp ANHUCO nâng cao hiệu quả hoạt động, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững trong bối cảnh thị trường đầy biến động.

1.1. Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Kế toán quản trị được định nghĩa là công cụ cung cấp thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà quản lý nội bộ. Theo bài giảng tại CEVG, KTQT có đặc điểm là không bắt buộc tuân thủ các chuẩn mực chung, chứa đựng cả thông tin tài chính và phi tài chính, và nhấn mạnh đến kết quả tương lai. Vai trò của kế toán quản trị thể hiện rõ qua hai chức năng chính: hoạch định và kiểm soát. Các báo cáo KTQT giúp việc hoạch định trở nên hiệu quả hơn bằng cách cung cấp dự báo chính xác về doanh thu, chi phí. Đồng thời, chúng tham gia vào việc kiểm soát bằng cách kết nối quyền lợi cá nhân với mục tiêu chung của tổ chức, thông qua việc đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận.

1.2. Yêu cầu thiết lập và vai trò của hệ thống báo cáo KTQT

Theo Thông tư 53/2006/TT-BTC, việc thiết lập hệ thống kế toán quản trị phải phù hợp với yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ và có tính so sánh được. PGS. Võ Văn Nhị (2007) cũng chỉ rõ, báo cáo quản trị nội bộ giúp nhà quản lý đạt được mục tiêu của tổ chức. Hệ thống báo cáo này được chia thành ba nhóm chính: báo cáo dự toán, báo cáo thực hiện, và báo cáo phục vụ kiểm soát, đánh giá. Mỗi loại báo cáo có một vai trò riêng, từ việc lập kế hoạch, theo dõi tiến độ đến phân tích sai lệch và cung cấp thông tin ra quyết định, tạo thành một chu trình quản lý khép kín và khoa học.

II. Thách thức trong hệ thống báo cáo KTQT tại An Hưng

Phân tích thực trạng kế toán quản trị tại doanh nghiệp An Hưng cho thấy công ty đã có những nỗ lực ban đầu trong việc áp dụng KTQT, nhưng hệ thống hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế. ANHUCO hoạt động trong lĩnh vực may mặc với quy mô lớn, gần 1.700 lao động và 29 chuyền may, đòi hỏi một hệ thống thông tin quản trị nhạy bén. Tuy nhiên, các báo cáo hiện hành phần lớn vẫn mang đặc trưng của báo cáo chi tiết trong kế toán tài chính, chưa được thiết kế chuyên biệt để phục vụ nhu cầu quản trị nội bộ. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo kiểu tập trung, sử dụng phần mềm 1A theo hình thức nhật ký chung, nhưng chưa có sự phân tách rõ ràng giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị. Điều này dẫn đến việc thông tin kế toán quản trị bị hạn chế, chưa cung cấp được cái nhìn đa chiều, chi tiết về chi phí, doanh thu theo từng trung tâm trách nhiệm, gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và ra quyết định chiến lược. Các báo cáo dự toán còn đơn giản, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và số liệu quá khứ, thiếu các phương pháp dự báo khoa học.

2.1. Thực trạng tổ chức báo cáo dự toán tại công ty ANHUCO

Công ty ANHUCO có xây dựng các báo cáo dự toán về tiêu thụ, sản xuất, chi phí nguyên vật liệu, nhân công và sản xuất chung. Tuy nhiên, các báo cáo này được lập một cách riêng lẻ, chưa tạo thành một hệ thống dự toán ngân sách tổng thể và liên kết chặt chẽ. Ví dụ, Báo cáo dự toán giá bán được lập dựa trên phương pháp cộng dồn chi phí và lợi nhuận mong muốn, nhưng việc xác định lợi nhuận mong muốn còn mang tính chủ quan. Quá trình lập dự toán ngân sách chưa có sự tham gia sâu rộng của các bộ phận, chủ yếu do phòng kế hoạch và phòng kế toán thực hiện, làm giảm tính cam kết và độ chính xác của kế hoạch.

2.2. Hạn chế trong báo cáo thực hiện và kiểm soát nội bộ

Các báo cáo thực hiện tại ANHUCO như báo cáo sản lượng, báo cáo chi phí, báo cáo bán hàng... chủ yếu là các bảng thống kê số liệu thực tế. Chúng chưa được trình bày dưới dạng so sánh, phân tích chênh lệch với dự toán một cách hệ thống. Việc phân tích chi phí sản xuất kinh doanh mới dừng ở mức tổng hợp theo khoản mục, chưa đi sâu vào phân tích biến động theo yếu tố (định mức và đơn giá). Các báo cáo này cung cấp thông tin "đã xảy ra" nhưng thiếu các phân tích sâu sắc để nhà quản trị có thể hiểu rõ nguyên nhân của các sai lệch, từ đó đưa ra hành động khắc phục kịp thời, làm giảm hiệu quả của công tác kiểm soát.

III. Phương pháp hoàn thiện cơ sở tổ chức báo cáo KTQT

Để khắc phục những hạn chế hiện tại, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả KTQT bắt đầu từ việc củng cố nền tảng tổ chức. Giải pháp trọng tâm là hoàn thiện công tác kế toán quản trị thông qua việc tái cấu trúc bộ máy quản lý theo các trung tâm trách nhiệm và cải tiến hệ thống xử lý thông tin. Việc xây dựng một cấu trúc quản lý rõ ràng là tiền đề để thiết lập một hệ thống báo cáo hiệu quả. Thay vì quản lý chung chung, công ty cần phân định rõ các bộ phận thành các trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư. Điều này không chỉ giúp cá nhân hóa trách nhiệm quản lý mà còn tạo cơ sở để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá thành quả phù hợp. Song song đó, hệ thống tài khoản kế toán cần được bổ sung, mã hóa chi tiết hơn để phục vụ cho việc thu thập và phân loại thông tin, đặc biệt là tách biệt biến phí và định phí, phục vụ cho việc lập báo cáo theo số dư đảm phí.

3.1. Xây dựng mô hình quản lý theo trung tâm trách nhiệm

Luận văn đề xuất tổ chức bộ máy quản lý của ANHUCO theo các trung tâm trách nhiệm kế toán. Cụ thể, các phân xưởng sản xuất, các phòng ban chức năng (nhân sự, kế toán, cơ điện) sẽ được xác định là các trung tâm chi phí. Các chi nhánh kinh doanh, cửa hàng sẽ là các trung tâm lợi nhuận. Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị hoạt động như một trung tâm đầu tư. Việc phân cấp này giúp gắn trách nhiệm của nhà quản lý với kết quả hoạt động của bộ phận mình, từ đó thúc đẩy họ kiểm soát chi phí và tối đa hóa lợi nhuận hiệu quả hơn. Mỗi trung tâm sẽ có một hệ thống báo cáo thành quả riêng, phản ánh các chỉ tiêu mà nhà quản lý tại đó có thể kiểm soát được.

3.2. Cải tiến hệ thống xử lý thông tin kế toán quản trị

Để có dữ liệu đầu vào chất lượng cho các báo cáo, cần hoàn thiện việc tổ chức xử lý thông tin. Luận văn đề xuất xây dựng một hệ thống tài khoản chi tiết, mã hóa các khoản mục chi phí theo cách ứng xử (biến phí, định phí) và theo từng trung tâm trách nhiệm. Ví dụ, tài khoản chi phí nhân công trực tiếp cần được chi tiết hóa cho từng phân xưởng. Việc này giúp tự động hóa quá trình tập hợp chi phí và lập các báo cáo quản trị nội bộ một cách nhanh chóng và chính xác, thay vì phải xử lý thủ công như hiện tại. Đây là bước đi nền tảng để xây dựng một hệ thống kế toán quản trị hiện đại và hiệu quả.

IV. Hướng dẫn tối ưu hóa báo cáo dự toán và thực hiện

Sau khi xây dựng nền tảng tổ chức, luận văn tập trung vào việc hoàn thiện nội dung và quy trình lập các báo cáo KTQT. Các báo cáo dự toán cần được xây dựng thành một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ dự toán tiêu thụ, kéo theo dự toán sản xuất, chi phí, và cuối cùng là các báo cáo tài chính dự toán. Quy trình lập dự toán cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban để tăng tính khả thi. Đối với các báo cáo thực hiện, cần chuyển từ việc chỉ liệt kê số liệu sang việc phân tích, so sánh với kế hoạch. Báo cáo cần làm nổi bật các chênh lệch bất lợi và thuận lợi, đồng thời phân tích nguyên nhân gây ra các chênh lệch đó. Việc áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại, như phân tích biến động chi phí theo định mức và đơn giá, sẽ cung cấp cho nhà quản trị những thông tin giá trị để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả và chủ động hơn.

4.1. Hoàn thiện hệ thống báo cáo dự toán ngân sách chi tiết

Luận văn đề xuất các mẫu báo cáo dự toán chi tiết hơn. Ví dụ, Báo cáo dự toán tiêu thụ nên được lập chi tiết theo từng sản phẩm, từng thị trường. Từ đó, xây dựng Báo cáo dự toán dòng tiền, giúp công ty chủ động trong việc cân đối thu chi, tránh rủi ro thiếu hụt vốn. Đặc biệt, việc lập dự toán ngân sách cần được xây dựng theo một quy trình khoa học, có sự tham gia của phòng kinh doanh, phòng kế hoạch và các phân xưởng sản xuất, đảm bảo dự toán vừa mang tính thách thức, vừa có thể thực hiện được.

4.2. Cải tiến báo cáo thực hiện theo hướng phân tích sâu

Các báo cáo thực hiện cần được thiết kế lại để phục vụ mục đích kiểm soát. Thay vì báo cáo tổng hợp chi phí, cần có Báo cáo phân loại chi phí theo cách ứng xử, làm cơ sở lập Báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí. Báo cáo này giúp nhà quản trị thấy rõ tác động của sản lượng tiêu thụ đến lợi nhuận. Đồng thời, cần xây dựng các báo cáo phân tích chi phí sản xuất kinh doanh chi tiết, ví dụ như Báo cáo phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chỉ ra chênh lệch do lượng và chênh lệch do giá, giúp xác định rõ trách nhiệm của phòng mua hàng và phân xưởng sản xuất.

V. Bí quyết ứng dụng thông tin KTQT để ra quyết định

Giá trị cốt lõi của kế toán quản trị nằm ở việc cung cấp thông tin ra quyết định. Luận văn chỉ ra rằng, với một hệ thống báo cáo được hoàn thiện, ban lãnh đạo ANHUCO có thể đưa ra các quyết định kinh doanh một cách khoa học và chính xác hơn. Các báo cáo kiểm soát và đánh giá không chỉ dùng để nhìn lại quá khứ mà còn là công cụ để định hướng tương lai. Việc áp dụng các báo cáo thành quả theo từng trung tâm trách nhiệm giúp đánh giá hiệu quả hoạt động một cách công bằng và khách quan, tạo động lực cho các nhà quản lý cấp trung gian. Hơn nữa, thông tin từ kế toán quản trị chi phí, đặc biệt là thông tin chi phí chênh lệch, sẽ là cơ sở quan trọng cho các quyết định ngắn hạn như định giá bán sản phẩm, chấp nhận hay từ chối một đơn hàng đặc biệt, hoặc quyết định giữa tự sản xuất hay gia công bên ngoài. Điều này giúp tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực và nâng cao lợi nhuận cho công ty.

5.1. Hoàn thiện báo cáo kiểm soát và đánh giá hiệu quả

Luận văn đề xuất xây dựng các báo cáo thành quả quản lý cho từng loại trung tâm trách nhiệm. Đối với trung tâm chi phí (phân xưởng), báo cáo sẽ so sánh chi phí thực tế với chi phí định mức. Đối với trung tâm lợi nhuận (chi nhánh), báo cáo sẽ tập trung vào lợi nhuận bộ phận. Những báo cáo này giúp nhà quản trị cấp cao kiểm soát hoạt động của các cấp dưới và có cơ sở để khen thưởng hoặc điều chỉnh kịp thời, qua đó nâng cao hiệu quả tổng thể.

5.2. Sử dụng thông tin thích hợp cho quyết định kinh doanh

Một ứng dụng quan trọng là sử dụng thông tin thích hợp để ra quyết định. Luận văn minh họa qua tình huống công ty ANHUCO cân nhắc giữa tự sản xuất và gia công đơn hàng quần sooc. Bằng cách lập báo cáo phân tích chênh lệch chi phí giữa hai phương án, chỉ tập trung vào các chi phí và doanh thu có liên quan, nhà quản trị có thể dễ dàng đưa ra lựa chọn tối ưu. Việc áp dụng phương pháp này cho các quyết định khác sẽ giúp công ty tránh được những sai lầm do dựa vào thông tin không phù hợp, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh tổ chức báo cáo kế toán quản trị tại công ty cổ phần an hưng phú yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề về việc khảo sát kế toán quản trị ở các doanh nghiệp sản xuất cho đến hiện nay có 2 mô hình: mô hình theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế tài chính theo từng “bộ phận chuyên môn hóa” và mô hình theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế-tài chính trong từng “quá trình hoạt động”. Nhưng mô hình kế toán trị với hệ thống quản lý theo “quá trình hoạt động” là sự đổi mới, tái lập lại cơ bản mô hình kế toán quản trị với hệ thống quản lý theo “chuyên môn hóa”. Nội dung kế toán quản trị thay đổi từ thiết lập cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tí lài chính theo hướng chuyên môn hóa sâu theo từng bộ phận, công đoạn giản đơn, từng nhà quản lý sang thiết lập, cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế-tài chính theo hướng liên kết các bộ phận, công đoạn thành quá trình hoạt động. Trong b đã đề cập những báo cáo kế toán quản trị theo mô hình kế toán quản trị với hệ thống quản lý theo “quá trình hoạt động”, từ đó cũng đã phản ánh được các bộ phận, mồi quan hệ giữa các bộ phận, phòng ban.

Mặt khác, việc thiết lập các báo cáo kế toán quản trị cho từng bộ phận trong doanh nghiệp sản xuất, góp phần giúp nhà quản trị cấp cao có thể dễ dàng hon trong việc hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp. Đề “ Hoan thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại cảng hang không quốc tế Đà nẵng” của Hà thị Hồng Nga (2012) đã tìm hiểu thực trạng, hệ thống báo cáo kế toán quản trị đang sử dụng tại doanh nghiệp, nhận định một cách rõ nét những mặt được và chưa được của công tác kế toán quản trị khi sử dụng các báo cáo này. Dựa vào việc khảo sát đó, cùng với việc vận dụng lý luận đặc trưng về bản chất kế toán quản trị đưa ra ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống, báo cáo kế toán quản trị tại cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, để công tác báo cáo kế toán quản trị phát huy tác dụng, thực sự trở thành công cụ quản lý, kiểm. soát hiệu quả của đơn vị.

Đề tài “ Xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại công ty TNHH Khởi Phát "của Lê thị Ánh Nguyệt ( 2013) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán quản trị và hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Từ đó, dựa trên cơ sở lý thuyết này đã đi khảo sát thực tế cách xây dựng hệ thống, báo cáo kế toán quản trị của công ty, tìm ra những ưu điểm và nhược điểm của báo cáo kế toán quản trị mà công ty đang sử dụng, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Công ty TNHH Khởi Phát, để báo cáo kể toán quản trị mà hiện tại công ty dang dùng thực sự trở thành là kênh thông tin hữu hiệu nhất trong việc quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nợi ¡ các doanh nghỉ Bài viết về “ Mô hình tổ chức kế toán quản trị Nam và những điều cần biết của TS. Bùi Công Anh (2013) đã khảo sát thực trạng các mô hình tô chức kế toán quản trị mà hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang áp dụng, đồng thời nêu lên những hạn chế trong các mô hình này. Từ đó, tác giả đưa ra mô hình tô chức kế toán quản trị mà các doanh nghiệp việt nam nên đi theo học hỏi từ kinh nghiệm của các doanh nghiệp trên thế giới đã áp dụng thành công.

Qua đó, cũng nhận định: “ Để kế toán quản trị thật sự được quan tâm và vận dụng ở các doanh nghiệp hiện nay thì phải được thực hiện đồng bộ ở các cấp từ cao đến thấp. Ở cấp quản lý vĩ mô, đòi hỏi phải có sự can thiệp vĩ mô của nhà nước và các cơ quan quản lý đào tạo chuyên ngành này nhằm qui định và hướng dẫn mô hình vận dụng kế toán quản trị, để doanh nghiệp thấy được tầm quan trọng và hiệu quả mang lại khi vận dụng kế toán quản trị. Hơn nữa, ở bản thân doanh nghiệp, các nhà quản lý phải có tầm nhận thức nhất về việc sử dụng các thông tin của kế toán, xây dựng được hệ thống thông tin thông suốt trong nội bộ doanh nghiệp mình, phải mạnh dạn cải tiến, sắp xếp lại bộ máy kế toán cho phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Nếu các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp.

cùng phối hợp xây dựng những điều kiện cơ sở đã được nêu ở trên, thì chúng. ta hãy tin rằng việc vận dụng kế toán quản trị vào doanh nghiệp thì hoàn toàn khả thi, tạo được kênh thông tin vô cùng hữu ích cho nhà quản trị các cấp điều hành doanh nghiệp hiệu quả hơn trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường hiện nay” Từ những nội dung đã nghiên cứu tại các đề tài trước đây trên cơ sở kế thừa những lý luận cơ bản về kế toán quản trị nói chung và báo cáo kế toán quản trị nói riêng, tác giả đã đi vào nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện tô chức báo cáo kế toán quản trị tại Công ty cỗ phần An Hưng. Tóm lại, kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự phát sinh, đã ghi chép, hệ thống, hóa trong các số sách nội bộ của DN mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị đơn vị. Để có được những, thông tỉn này kế toán quản trị phải sử dụng các phương pháp, công cụ khoa học nhằm phân tích, xử lý các đối tượng kế toán nội bộ một cách cụ thẻ, phù hợp với nhu cầu, mục đích sử dụng thông tin mà nhà quản lý cần.

Hệ thống, hóa thông tin trong các báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị của DN b. Đặc điểm của kễ toán quản trị Kế toán quản trị ra đời chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nội bộ của doanh nghiệp do đó, nó có những đặc điểm sau (bài giảng kế toán quản trị tại CEVG ~ Trung tâm Pháp Việt đào tạo về quản lý; [2,1] ): ~ Chủ yếu phục vụ mục tiêu nội bộ doanh nghiệp. - Không nhất thiết phải tuân theo các chuẩn mực. - Chứa đựng những thông tin tải chính, phi tài chính cũng như đánh giá chủ quan.

- Nhân mạnh đến kết quả tương lai. ~ Đánh giá nội bộ dựa trên những thông tỉn cụ thể. Nói chung, kế toán quản trị cung cấp thông tin về tình hình hoạt động, của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian bất kỳ cho hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc doanh nghiệp. Quan trọng hơn, kế toán quản trị còn giúp cho các nhà quản lý đánh giá được hiệu quả của một kế hoạch đề có thể kịp thời điều chỉnh hoạt động và ra mục tiêu.

Vai trò báo cáo kế toán quản trị Theo sách báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị áp dụng cho. doanh nghiệp Việt Nam của PGS. Võ Văn Nhị (2007) có ghỉ: Báo cáo kế toán quản trị cung cấp thông tỉn kế toán cho các nhà quản lý. nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức để ra.

Nhà quản lý nhận được thông, tin nay dưới các hình thức như: báo cáo doanh thu, báo cáo chỉ phí, các báo cáo dự toán, các báo cáo hoạt động hàng tháng. Báo cáo kế toán quản trị cung cấp. thông tin phục vụ cho hai chức năng chủ Báo cáo kế toán quản trị cho phép đưa ra những hoạch định hiệu quả hơn bằng cách đem lại sự hiểu biết chính xác và cụ thể hơn về những vắt cần giải quyết. Các nhà quản lý sử dụng thông tin kế toán quản trị vào mục đích kiểm soát thông qua việc tác động vào việc hình thành quyết định của các thành viên, buộc các quyết định đó phải phù hợp với mục tiêu chung của cả tổ chức.

Vai trò của báo cáo kế toán quản trị đối vi việc hoạch định: Việc hoạch định (lập kế hoạch), bí cáo KTQT giúp cho một tổ chức đạt tới mục đích của mình. Những hiểu t ngày càng tăng về tác động của một quyết định tới tổ chức cho phép các nhà quản lý thực hiện nhiều sự lựa chọn. Ví dụ, dự báo về sản lượng tiêu thụ được sử dụng cho quyết định số lượng hàng cần sản xuất. Việc thực hiện một cuộc khảo sát khách hàng sẽ cho.

phép đưa ra một dự báo chính xác hơn về doanh thu, dẫn đến những quyết định sản xuất đúng đắn hơn. những thông tin trên đều được cung cấp qua các báo cáo KTỌT. Vai trò của báo cáo kế toán quản trị đối với việc kiểm soát Thông tin trên báo cáo kế toán quản trị tham gia vào việc kiểm soát bằng việc kết hợp quyền lợi của các thành viên của tổ chức với mục tiêu chung của tổ chức. Các thành viên của tổ chức được khích lệ hướng đến mục tiêu chung của cả tổ chức thông qua hệ thống khen thưởng.

Một số phương, pháp đánh giá kết quả căn cứ trên các báo cáo kế toán quản trị. Ví dụ, các nhà quản lý bộ phận thường được đánh giá dựa trên lợi nhuận đạt được của bộ phận đó thông qua các báo cáo bộ phận. [3,15] 10 Vai trò của báo cáo kế toán quản trị phục vụ cho chức năng kiểm soát biểu hiện qua: + Chức năng kiểm soát việc quản lý: Thông tin trên báo cáo kế toán quản trị cũng được dùng dé đánh giá kết quả hoạt động của các đơn vị phân quyền trong doanh nghiệp, như là các đơn vị trực tiếp kinh doanh, các phòng, ban, bộ phận. Các tiêu chuẩn đánh giá kết quả kinh tế cung cấp một sự kết nối giữa chiến lược của một doanh nghiệp và sự thi hành chiến lược đó bởi các đơn vị hoạt động riêng lẻ trong doanh nghiệp.

[1,16] + Chức năng kiểm soát hoạt động: Thông tin trên báo cáo kế toán quản trị cũng là một phương tiện chính mà qua đó, nhân viên, nhà quản trị nhận được thông tin phản hồi về kết quả của họ, cho phép họ học hỏi từ quá khứ và cải thiện trong tương lai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ