Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại NH TMCP Công Thương VN - TTT Chương 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh tạo động lực lao động tại NH TMCP Céng Thuong VN - TTT. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề công tác tạo động lực lao động. Cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau vẻ tạo động lực lao động.
Luận văn của tôi sẽ kế thừa các lý luận và thực tiễn về tạo động lực. lao động từ đó phát triển cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Năm 2007, Boeve đã tiền hành cuộc nghiên cứu về các yếu tố tạo động. lực của các giảng viên khoa đảo tạo trợ lý bác sỹ ở các trường Y tại Mỹ trên cơ sở sử dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg và chỉ số mô tả công việc (JDI) cua Smith, Kendall & Hulin.
Ong chia nhân tố tạo động lực làm hai nhóm: Nhóm nhân tố nội tại gồm bản chat công việc, cơ hội đào tạo va thing tiến và nhóm nhân tố bên ngoài gồm lương, sự hỗ trợ của cấp trên và môi quan hệ nhất định đối với tạo động lực làm việc. Sach: “A handbook of human resource management practice” duge tái bản lần thứ 10 năm 2006 của tác giả Michael Armstrong đã đưa ra các học thuyết về động lực cũng như các chính sách dựa trên các học thuyết động lực. Sach: “ Drive: The Surprising Truth About What Morivates Us”, xi bản tháng 04/2011 của tác gia Daniel H.pink đã đưa ra những nghiên cứu mới về tạo động lực. Dựa trên những nghiên cứu về tạo động lực thúc đẩy con người được thực hiện trong bồn thập kỷ, tác giả đưa ra sự khác biệt của lý thuyết và thực tế.
Tác giả chứng minh rằng, quan điểm về “Củ cà rốt và cây gây” không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay nữa Cuốn sách “Tạo động lực làm việc — Phải chăng chỉ có thể bằng tiền?” của Business Edge. Cuốn sách đặt ra những vấn đề tạo động lực cho người lao động thông qua nhiều phương thức khác nhau, không chỉ thông qua công cụ tài chính là tiền. Bởi xuất phát từ thực tiễn rất nhiều nhà lãnh đạo, quản lý đã phải tự đặt câu hỏi tai sao khi tăng lương mà nhân sự vẫn rời bỏ tổ chức, tại sao người lao động chỉ hết giờ mà không hết việc. Tiền có thể là công cụ tạo động lực với đối tượng này, nhưng lại không phải là nhân tố kích thích người khác làm việc.
Nhà quản lý cần xác định mục tiêu làm việc của người lao động để tìm công cụ kích thích phù hợp. Pink (2013) tác giả cuốn sách “ Động lực chèo lái hành vi — Sự thật kinh ngạc về những động cơ thúc đây động lực của con người” tái bản — Đổi tên từ “Động lực 3.0”, NXB Lao động xã hội (Bản quyền tiếng Việt công ty sách Alpha), Hà Nội. Nội dung cuốn sách là luận điểm mới về động lực làm việc của con người trong thế kỷ 21, mà tác giả nhận định là các tổ chức, doanh nghiệp hiện nay chưa khai thác và đánh giá đúng vai trò của nó do vẫn còn lệ thuộc nhiều vào các mô hình tạo động lực cũ. Cuốn sách chỉ ra rằng động lực của con người được biểu hiện qua 3 mức.
Cuốn sách đề cao và khuyến khích sử dụng động lực 3.0 — Tăng cường các biện pháp tạo động lực nội tại bên trong mỗi con người, phát huy tính chủ động, tỉnh thần, nhiệt huyết mỗi cá nhân. Trên thực tế tùy vào từng hoàn cảnh cụ thê, tùy người lao. động, tùy công việc để áp dụng các động lực. Cần có sự kết hợp hài hòa cả ba loại động lực 1.
Đôi khi, tại cùng một thời điểm nhất định cần phải kết hợp cả ba loại động lực. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về tạo động. lực lao động như Luận án tiến sỹ: Tạo động lực cho lao động quản lý trong doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020”của tác giả Vũ Thị Uyên (trường ĐH Kinh tế Quốc dân, 2008). Luận án đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về vai trò lao động quản lý trong doanh nghiệp và đề xuất những giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước.
Luận án tiến sỹ “ Chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã ( nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An” năm 2010 của tác giả Lê Đình Lý đã đưa ra được những tác động của các yếu tố tỉnh thần như sự thành đạt, sự công nhận, cơ hội phát triển bản thân cao hơn nhiều những yếu tổ vật chất. Từ đó đưa đưa ra những phương thức tạo động lực đối với đối tượng này. Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đã phác họa ra một số thực. trạng, dựa trên những số liệu thống kê hay kết quả điều tra xã hội học và đưa ra một số giải pháp về tạo động lực lao động.
Hầu hết các đề tài đều ở tầm vĩ mô, hoặc cụ thể nhưng đối tượng nghiên cứu là khác nhau, thời điểm nghiên cứu khác nhau, khu vực, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và đặc điểm tại mỗi công ty cũng không giống nhau, nên không hoàn toàn áp dụng được ở các doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, tại NH TMCP Công Thương VN-TTT hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề tạo động lực lao động. Từ những giá trị tham khảo của các tài liệu, công trình nghiên cứu cùng. với thực tế công tác tạo động lực lao động tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam — TTT là những cơ sở lý luận và thực tiễn giúp tôi thực hiện đề tài “Tạo động lực lao động tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - TTT”.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC LAO DONG TRONG DOANH NGHIEP 1. CAC KHAI NIEM CO BAN 1. Động lực lao động Có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động. rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định.
Năm 1994 Higgins đưa ra khái niệm động lực là lực thúc đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa thỏa mãn. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th. Nguyễn Vân Điềm — PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [4, tr. 'Vậy động lực là gì? Động cơ là một lý do để làm điều gì đó.
Còn động lực liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến con người đề cư xử theo những cách nhất định. Ba thành phần của động lực được liệt kê bởi Arnold và cộng. sự (1991) là: © Sự định hướng - những gì một người đang có gắng làm; © N6 luc - mức độ khó khăn của một người đang có gắng; ® Kiên tri - một người duy trì sự có gắng trong bao lâu.2 Khái niệm tạo động lực lao động. Theo Giáo trình Hành vi tổ chức của tiến sĩ Bùi Anh Tuấn trường đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc" [7, tr.91] Mục đích của tạo động lực: Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của người quản lý.
Điều quan trọng nhất là thông qua các. biện pháp chính sách có thê khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm năng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Một khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công. Không những thế nó còn tạo ra sự gắn bó và thu hút lao động giỏi tô chức.
Tạo động lực cho người khác là làm cho họ di chuyển theo hướng bạn muốn họ đi dé đạt được kết quả. Tự tạo động lực là định hướng một cách độc lập và sau đó thực hiện một chuỗi hành động để đảm bảo rằng bạn đến được. Động lực có thể được mô tả như là mục tiêu - định hướng hành vi. Mọi người đang có động lực khi họ mong đợi rằng một quá trình hành động có thê sẽ dẫn đến việc đạt được một mục tiêu và một phần thưởng có giá trị - đó là đáp ứng nhu cầu của họ.3 Khái niệm chính sách tạo động lực lao động Chính sách tạo động lực lao động là một chính sách mà thông qua các công cụ, biện pháp nhà quản trị có thể áp dụng đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc, tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động.
[Các khái niệm cơ bản về tạo động lực, Trường ĐH Kinh tế Quốc Dan, Tr5] Nhà quản trị muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tắt cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động, đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tỉnh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.4 Quy trình tạo động lực Mô hình liên quan đến quá trình động lực được trình bày trong Hình 1. Mô hình cho thấy rằng động lực được khởi xướng bởi việc nhận biết có ý 10 thức hoặc không những nhu cầu không thỏa mãn. Những nhu cầu này tạo ra những mong muốn, đó là những ham muốn đạt được hoặc có được cái gì đó Các mục tiêu sau đó được thiết lập với niềm tin sẽ đáp ứng được những nhu cầu và mong muốn này và một đường hành vi được lựa chọn đề đạt được mục.
Nếu đạt được mục tiêu, nhu cầu sẽ được đáp ứng và hành vi có thể sẽ được lặp lại trong lần tiếp theo khi nhu cầu tương tự xuất hiện. Nếu mục tiêu không đạt được, hành động tương tự cũng ít có khả năng lặp lại. Quá trình lặp lại hành vi hoặc hành động thành công này được gọi là sự củng cố hoặc quy. luật của hiệu quả (Hull, 1951).
_Z Thiết lập mục tiêu Nhu cầu Hành động Đạt được mục tiêu Hình 1. Quy trình tạo động lực (Nguồn: “A handbook of human resource management practice”, tac gid Michael Armstrong, tr253) 1.