Chương 1: Cơ sở lý luận tạo động lực làm việc cho người lao động Chương 2: Thực trạng động lực làm việc của người lao động tại Công ty TNHH MTV Cao su Kon Tum Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tạo đông lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH MTV Cao su Kon Tum 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1.TS Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Xuân Lăn, TS. Nguyễn Phúc Nguyên (2007), Giáo trình Quản trị học, NXB Thống kê.
Giáo trình đã giới thiệu tông quan vẻ quản trị học, quản trị nguồn nhân lực. Khái quát và hệ thống hóa các quan điểm và lý thuyết về quản trị học, quản trị nguồn nhân lực, nhấn mạnh quan điểm chiến lược về nguồn nhân lực. Tập trung đi sâu nghiên cứu các lý thuyết về nhu cầu và động cơ thúc đấy. Trong chương VIII: Động cơ thúc đây: Các lý thuyết về nội dung động cơ thúc đây, (lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow, thuyết ERG, thuyết 2 yếu tố của Herzberg, thuyết thúc đây nhu cầu của Me Clelland) đều cho rằng con người được thúc đây để thỏa mãn một loạt các nhu cầu.
Các lý thuyết thúc đây theo tiến trình (lý thuyết công bằng, lý thuyết kỳ vọng), giải thích những hành vi nhân viên lựa chọn để đáp ứng nhu cầu của mình. Luận án tiến sỹ “Giái pháp tạo động lực cho lao động quản lý trong các công ty Nhà nước ở Hà Nội và ở Việt Nam đến năm 2020” của Vũ Thu Uyên, đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, luận án tiến sỹ kinh tế. Trong luận án tác giả đã tiếp cận từ góc độ nhu cầu của lao động quản lý. Trong nội dung.
phân tích tác giả phân tích nhu cầu, sự thỏa mãn, cách phát triển nhu cầu mới nhằm tăng động lực trong lao động của lao động quản lý trong các công ty nhà nước dé đưa ra các vấn để tạo động lực làm việc cho người lao động. Từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong các công ty nhà nước ở Hà Nội. Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện hệ thống công cụ tao động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước ” của Nguyễn Thị Phương Lan, Học Viện hành chính Quốc Gia, Hà Nội, Luận án tiến sỹ quản lý công. Luận án đã hệ thống hóa một cách cơ bản lý luận về động lực, tạo động lực cho người lao đồng thời làm sáng tỏ nhiều điểm khác biệt về động lực và các yếu tố tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước so với người lao đội \g ở khu vực ngoài nhà nước.
Trên cơ sở nền tảng của phương thức tiếp cận hệ thống, luận án đã xây dựng khung lý thuyết hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức hành chính nhà nước, trong đó nhắn mạnh yêu cầu cấp thiết phải tiếp cận hệ thống, nhìn nhận những công cụ tạo động lực cho công chức hành chính nhà nước như là một hệ thống và sử dụng chúng. một cách có hệ thống thì động lực làm việc của công chức ở các cơ quan hành. chính nhả nước sẽ được cải thiện, sẽ giải quyết được tình trạng thiếu gắn bó. với khu vực công, là nguyên nhân của tình trạng hiệu suất lao động, hiệu quả công việc thấp, tình trạng tham nhũng, quan liêu và các biểu hiện tiêu cực đã và đang là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nền công vụ yếu kém, không đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi “phát triển nhanh chóng và bền vững” của đất nước trong thời kỳ hội nhập.
Nghiên cứu của Trương Minh Đức về “Tạo động lực làm việc tại céng ty TNHH Ericsson tại Việt Nam” (tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 27(201 1), trang 240-247) vấn đề tuyển dụng và bố trí sử dụng. đúng người, đúng việc là quan trọng nhưng khuyến khích, động viên, tạo động lực cho nhân viên phát huy tối đa khả năng trí tuệ của bản thân mới là vấn đề then chốt nhất trong việc sử dụng lao động. Để tạo động lực làm việc cho nhân viên, nhà quản lý cần phải thấu hiểu nhu cầu làm việc của nhân viên, họ làm vì cái gì, điều gì thúc đây họ làm việc hãng say để từ đó có cách thức tác động phù hợp. Nghiên cứu cho thấy có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tạo động lực làm việc của nhân viên; thứ nhất là nhu cầu vật chất của cuộc sống thông qua nhu cầu tăng lương và các thu nhập khác ngoài lương; thứ hai là điều kiện cơ sở vật chất làm việc của nhân viên, mối quan hệ với đồng nghiệp, vị trí trong tổ chức; thứ ba là nhu cầu được thể hiện năng lực bản thân như muốn có cơ hội được học tập phát triển chuyên môn, mong muốn có cơ hội thăng tiến để thể hiện năng lực của bản thân, được chủ ng trong công việc, và có công việc phù hợp đẻ phát huy chuyên môn nghiệp vụ và nhu cầu phát triển các mối quan hệ trong tô chức như mối quan hệ với lãnh đạo, với khách hàng.
Nghiên cứu của Herzberg (1959), 7wwo Factor Theory: Motivation Factors. Nghiên cứu đã chỉ ra có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc là các nhân tố thúc đây và nhân tố duy trì. Nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (201 1) dựa trên lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, hai tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia. Kết quả các phân tích đã chứng minh rằng biến động lực quan trọng nhất là điều kiện làm việc.
Sự công nhận là yếu tố đáng kể thứ hai, tiếp theo chính sách công ty và các yếu tố tài chính. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong việc tạo động. lực cho nhân viên bán hàng. Nghiên cứu của Chomg-Guang Wu (2007) dựa trên thuyết kỳ vọng.
của Vietor Vroom. Nghiên cứu tiến hành kiểm định mô hình và đã kết luận rằng các yếu tố giúp đỡ đồng nghiệp, đánh giá công bằng, phát triển nghề nghiệp, cam kết của tổ chức, đáp ứng nhu cầu cá nhân là những yếu tố tác động đến động lực của nhân viên. Có thể thấy các nghiên cứu trên đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát và những nhận định về các nhân tố tạo động lực cho người lao động, song chưa có nghiên cứu nào tiến hành nghiên cứu một cách cụ thể về các nhân tố tác động đến động lực thúc đây người lao động làm việc tại Công ty TNHH MTV Cao su Kon Tum. Trên cơ sở tham khảo các học thuyết và mô hình nghiên cứu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu để xác định các nhân tố và mức ảnh hưởng của các nhân tố đến động lực thúc đây người lao động làm việc tại Công ty TNHH MTV Cao su Kon Tum, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách để tạo động lực thúc đẩy người lao động làm việc tại Công ty TNHH MTV Cao su Kon Tum.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN TAO DONG LUC LAM VIEC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 11. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG TÔ CHỨC 1. Kh iệm động lực làm việc Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về động lực trong lao động, cụ thể Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyên của mỗi cá nhân. Kreitner (1995), động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định.
Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân đẻ đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Robbins (1998), George và Jones (1999) định nghĩa động lực là một nhân tố tâm lý kích thích một cá nhân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu cá nhân cu thể hoặc mục tiêu của tô chức; động lực phục vụ như một cơ chế đẻ đáp ứng một nhu cầu cá nhân. Uroševie và Miljic (2012) phát biểu rằng động lực có thể được định nghĩa là một quá trình tạo ra các hoạt động liên quan trực tiếp đến các đối tượng và nhu cầu nhất định đẻ đạt được một mục tiêu nhất định. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th.
Nguyễn Vân Điểm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân "Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [6, tr. Theo TS Bùi Anh Tuấn trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngưi trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tô chức. cũng như bản thân người lao động” [1 1, tr89] Động lực xảy ra bên trong con người, nó ở dạng vật chất vô hình nên khó nhận biết.
Biểu hiện của động lực là khi con người thể hiện ra bên ngoài thông qua lời nói hay hành động tuy nhiên cũng có lúc động lực không phải lúc nào cũng đồng nhất với hành vi bên ngoài. Động lực lao động của con người đa dạng, biến đổi theo thời gian và chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh. Ngoài ra, động lực của con người đôi khi là hành động vô thức. Động lực lao động của mỗi cá nhân là khác nhau.
Với người có động lực lao động cao, họ sẽ có gắng nhiều hơn trong công việc và sẽ tạo ra năng. suất, chất lượng cao và ngược lại, khi không có hoặc có ít động lực lao động thì năng suất hiệu quả công việc sẽ thấp. Con người làm việc đều mong muốn được khẳng định bản thân, được thành đạt, cũng như muốn có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống cá nhân. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau.
Nhà quản trị cằn có những tác động khác nhau đến mỗi người lao động. Động lực mạnh sẽ thúc đây con người hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và ngược lại 1. Khái niệm tạo động lực làm việc Theo tién si Bai Anh Tua trường đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo động. lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc" [11, tr91].