CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. TONG QUAN VE TAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Nhu cầu của người lao động. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong.
muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tỉnh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau [23] Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chỉ phối con người cảng cao.
Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chỉ phối nhất định, nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tân, những nhu cầu bậc thấp nhất được thỏa mãn thì phát sinh những nhu cầu cao hơn và cần được thỏa mãn. VỀ mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu câu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân.
Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay. mắt cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu chỉ phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người.
Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Động cơ thúc đẩy người lao động, Đông cơ lao động là một mục đích chủ quan trong hoạt động của người lao động thúc đây con người hoạt động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu nào đó đã được xác định của người lao động. 'Khái niệm động cơ lao động là một khái niệm trừu tượng và rất khó xác. định một cách cụ thể vì thường bị che dấu bởi bản chất thật và nhiều lý do khác nhau như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân, nhân sinh quan của mỗi người.
Đông cơ lao động luôn biến đổi theo thời gian và tại mỗi thời điểm thì người lao động sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau. Trừ những nhu cầu sinh lý thì nói chung nhu cầu phụ thuộc phần lớn vào môi trường hoạt động của con người Vì vậy, là nhà quản lý phải biết chính xác các động cơ của người lao động để biết cách thỏa mãn những động cơ đó đối với từng người lao động cụ thể sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng và đáp ứng được mục đích của tổ chức. Động lực lao động Để tổ chức đạt được năng st it, chất lượng và hiệu quả công việc cao cần có những người lao động làm việc tích cực, đam mê và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản lý sử dụng để tạo động lực cho người lao động.
Vậy động lực lao động là gì? C6 quan niệm cho rằng:“Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.134] Quan niệm khác lại cho rằng: động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biéu hiện của động lực là sự sẵn sằng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [13, tr. 10 Qua hai khái niệm trên về động lực lao động có thể đưa ra những nhận xét khái niệm về động lực lao động bao gồm những nội dung sau. Động lực lao động là những nhân tố xuất phát từ bên trong người lao.
động “động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người” “động lực lao động là sự khát khao tự nguyện. 91] Nói như vậy không có nghĩa là những nhân tố bên ngoài không có ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động. Động lực lao động cũng không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân, không có ai sinh ra đã có sẵn đông lực lao động hay không có động lực lao động, vì vậy hãy chủ động tìm biện pháp tạo động lực cho họ 1. Tạo động lực làm việc cho người lao động, Có quan điểm cho rằng “tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động lên người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [14, tr87] Nhu vay, tạo động lực lao động là công việc của các nha quan lý, công cụ để tạo động lực lao động là các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý còn kết quả của tạo động lực lao động là động lực của người lao động.
Nếu động lực lao động là những nhân tố xuất phát từ bên trong người lao động thi tao động lực lại là một công việc của nhà quản lý làm sao cho. nhân viên của mình có động lực trong thực hiện công việc. Động lực lao động có thể coi là đầu ra của quá trình tạo động lực. Để tạo được động lực nhà quản lý phải bỏ ra những khoản chỉ phí dưới các dạng như: chi phi biểu hiện dưới dạng tiền lương của người lao động và các nhân tố vô hình khác như tính hấp dẫn của công việc, văn hoá tổ chức môi trường làm việc.
nhà quản lý phải bỏ ra tiền lương đủ hấp dẫn để chỉ trả cho người lao động, bỏ thời gian tiền bạc để đầu tư thiết kế ấp dẫn, có tính thách thị iệc ổn định và độ rủi ro trong công việc là thấp, Công ty phải chú ý xây dựng môi trường làm việc thật tốt, văn hoá Công ty thật phủ hợp. i Như vậy, có thê thấy tạo động lực là một quá trình liên tục, tốn nhiều chỉ phí khác nhau và khá phức tạp. Bởi vì không phải bỏ tiền ra là nhà quản lý có thể có được động lực làm việc của người lao động, việc xây dựng thiết kế công việc, môi trường làm việc và văn hoá Công ty không phải là dễ thực hiện, không phải bao giờ cũng kích thích được người lao ø làm việc theo yêu cầu của nhà quản lý. Chính điều đó làm nên tính nghệ thuật, ộc đáo và đa dạng của tạo động lực lao động nói chung và quản trị nhân lực nói riêng.
Vai trò của tạo động lực làm việc Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của người quản lý. Điều quan trọng nhất là thông qua các biện pháp chính sách có khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiểm năng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Một khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Không những thế nó còn tạo ra sự gắn bó và thu hút lao động giỏi về với tổ chức.
4) Đối với tỗ chức. ~ Các nhân viên trong một tổ chức là tài sản quý giá nhất, đồng thời cũng là nguồn đầu tư vào sản xuất năng động nhất. Có thể phát huy được năng lực công tác của người lao động hay không là nhân tố quyết định đến sự thành bại của tổ chức. Mối quan hệ trong tổ chức trở nên tốt đẹp và lành mạnh hơn, không khí làm việc thỏa mái, mọi người hỗ trợ nhau trong công việc, đặc biệt là tạo được khả năng cạnh tranh của các cá nhân trong tổ chức cũng như.
giữa tổ chức với các tô chức bên ngoài khác, là một trong những nhân tố tạo tiền đề phát triển cho tổ chức trong tương lai. ~ Tổ chức cung cấp một hệ thống thù lao hấp dẫn và công bằng, điều kiện làm việc tốt, quan tâm, chú trọng đảo tạo và phát triển và tạo cho nhân viên sự thỏa mãn trong công việc sẽ khuyến khích nhân viên tích cực làm việc, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, tạo động lực góp phần thu hút nhân tài và khi có điều kiện cho họ phát triển, cấp trên công nhận thành tích 12 của họ và có chính sách khích lệ kịp thời cho nhân viên, họ sẽ gắn bó lâu dài với tổ chức hơn. ~ Một công ty với nguồn nhân lực dồi đảo và nhân viên có độ thỏa mãn cao sẽ là lựa chọn ưu tiên của họ.
Giữa hai công ty với cùng một mức lương, có thương hiệu tin cậy ngang nhau, có chế độ đãi ngộ gần bằng nhau, nhân viên sẽ lựa chọn công ty nào có “uy tín” hơn trong chính sách nhân sự. “Uy tín” đó được tạo ra không như sản phẩm hàng hóa mà từ những chính sách hướng về con người trong và ngoài công ty. Sức cạnh tranh cốt lõi không phải đến từ một năng lực cụ thể mà đến từ nguồn nhân lực. Tài nguyên nhân lực chính là nguồn mà mọi tổ chức không thể bắt chước và nó cũng là nhân quan trọng dé làm tăng giá trị của công ty.
Các công ty cẳn chú ý vào việc xây dựng một nguồn nhân lực vững mạnh và giữ vững thương hiệu nhân lực của công ty mình thì chắc chắn sẽ tạo ra ưu thế cạnh tranh hữu hiệu. 5) Đối với nhân viêm ~ Động lực làm việc vừa là điều kiện vừa là nhân t6 quyết định đến hành vi và hiệu quả công việc. Nhân tố cốt lõi trong việc quyết định đến động lực thúc đầy chính là nhu cầu của mỗi cá nhân. Con người thiếu động lực là thiếu đi ước mơ, khát vọng, thiếu phương hướng làm việc và mục đích sống.
Tùy thuộc vào mức độ cấp bậc của nhu cầu mà người lao động sẽ có hành động và phương hướng thích hợp đề thỏa mãn nhu cầu đó. ~ Một khi con người có động lực thúc day ho hang say hơn trong công việc, luôn có gắng phấn đấu, đóng góp những giá trị đích thực và hữu hiệu nhất, công việc của mỗi nhân viên hiệu quả hơn, đạt năng suất cao hơn và kết quả là đem lại cho mình thu nhập cao hơn.