Chương I: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động. Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho người lao động tại công ty Cô phần môi trường và phát triển đô thị quảng bình. Chương 3: Một số giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động. tại Công ty cô phần Môi trường và Phát triên đô thị Quảng Bình.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu: Vấn đề tạo động lực lao động ngày càng được các nhà quản trị thừa nhận là năng lực cốt lõi dé sang tao giá trị cho tổ chức, cho khách hàng và tạo lập vi thé cạnh tranh bền vững cho công ty. Vì vậy, đề tài này thu hút được sự. quan tâm nghiên cứu của rất nhiều các tác giả. Trong suốt thời gian thực hiện đề tài của mình, tôi nhận thấy có nhiễu tai liệu, công trình nghiên cứu rất hữu ích, giúp đề tài của mình được hoàn thiện hơn.
Sau đây là một số tài liệu mà bản thân đã tìm hiểu, cụ thể: + Giáo trình Quản trị NNL của Nguyễn Quốc Tuấn, Đoàn Gia Dũng, Đào Hữu Hòa, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Phúc Nguyên — Nhà Xuất bản thống kê (2006). Giáo trình không chỉ cung cấp một cách toàn diện các kiến thức lý luận mà còn giúp người học rèn luyện kĩ năng. thực hành trong các lĩnh vực của quản trị nguồn nhân lực, bao gồm: hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, dao tạo và phát triển, thù lao các lĩnh vực khác. + Giáo trình hành vi tổ chức ~ PGS.
Bùi Anh Tuấn - PGS. Phạm Thúy Hương (Đại học Kinh tế Quốc dân — 2009). Giáo trình gồm 10 chương, trong đó có Chương 4: Tạo động lực cho người lao động. Chương 4 nêu rõ các nội dung về động lực của cá nhân trong tô chức, các học thuyết về tạo.
động lực và tạo động lực trong các tổ chức ở Việt Nam. + DB tai “ 7go động lực làm việc cho người lao động tại Trung tâm kinh doanh VNPT Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Lê Vũ, Trường Đại học Đà Ning, nim 2016. Tác giả Nguyễn Lê Vũ đã đưa ra cơ sở lý luận về công tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp một cách khá đầy đủ. Tác giả đã sử dụng các phương pháp định lượng và định tính để phân tích, đánh giá thực trạng tạo động lực tại Trung tâm kinh doanh VNPT Đà Nẵng.
Từ đó, đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực tại đơn vị: Giải pháp về vấn é yếu tố tỉnh than, van dé tién lương, van dé đánh giá thành tích. + Đề tài “ Tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020” đề tài nghiên cứu luận án tiễn sĩ kinh tế của tác giả Vũ Thị Uyên. Đề tài đã nêu tổng quan lý luận về tạo động lực lao động. Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng tạo động lực cho người lao động.
quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội, đã đưa ra mặt tích cực cũng như mặt hạn chế của các doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp nhằm. hoàn thiện tạo động lực lao động. + Đề tài “Tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Dệt may 29/3 của tác giả Võ Thị Hà Quyên - Trường Đại học Đà Nẵng nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác tạo động lực tại Công ty Cổ phần Dệt may 29/3. Tác giả đã đưa ra giải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động để đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại và mục tiêu phát triển lâu đài của công ty.
Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày giải pháp giúp tăng năng suất lao động đảm bảo chất lượng, tiến độ công việc, xây dựng đời sống tỉnh thần, nâng cao tỉnh thần học hỏi, phát triển bản thân cán bộ công nhân viên tại Công ty. CHUONG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO. NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỌNG LỰC CHO NGƯỜI LAO DONG 1.1 Một số cơ sở lý luận về động lực lao động 1.1 Động lực Nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. đối với sự tồn tại và phát triển của tất cả các tô chức, nhất là trong môi trường đầy thách thức và nhiều biến động của xu thế hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày nay.
Nguồn nhân lực với tiềm năng tri thức chính là nguồn vốn hàng đầu để giành lợi thé cạnh tranh của các tổ chức. Mỗi một tổ chức bắt kỳ đều mong muốn người lao động của họ hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhằm góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức. Trong một tập thê có những người lao động làm việc hãng say nhiệt tỉnh, đạt kết quả cao trong công việc, tuy nhiên, cũng có những người làm việc trong một cách thiếu hứng thú trong lao động, thờ ơ với công việc, thậm chí bỏ việc, dẫn đến kết quả thực hiện công việc thấp. “Theo các nhà kinh tế học cho rằng câu trả lời cho vấn đề trên chính là động lực lao động của mỗi cá nhân người lao động.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động. Theo Nguyễn Vân Điềm — Nguyễn Ngọc Quân trong cuốn “Giáo trình quản trị nhân lực” (2007), “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động đẻ tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các. mục tiêu, kết quả nào đó. 134] Cũng có quan niệm cho rằng “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho.
phép tạo ra năng suất và hiệu suất cao” [1, tr. 85] Mỗi một con người đều có mong muốn được khẳng định bản thân, khẳng định giá trị của bản thân mình, được thành công trong công việc trong. cuộc sống và hơn nữa là có thu nhập để đảm bảo cuộc sống, đảm bảo những. nhu cầu của bản thân.
Mỗi người ở những vị trí xã hội khác nhau và với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau vì vậy. nhà quản trị cần phải có những tác động khác nhau đến mỗi người lao động. để tạo động lực cho người lao động, khi có động lực mạnh mẽ thúc đây con người sẽ hành động tích cực, năng suất cao từ đó sẽ mang lại hiệu quả cao và ngược lại. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Điều này có nghĩa là không có động lực lao đông chung cho mọi lao động Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những. đông lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng ñễ thực hiện công việc được giao sao cho hiệu quả, góp phản giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh.
Thực tế lợi ích có quan hệ rất chặt với động lực làm việc, nhưng lợi ích của cá nhân và lợi ích của tập thể lại luôn mâu thuẫn. Để người lao động có thể tự nguyện theo các định hướng của doanh nghiệp thi can cho họ thấy rõ lợi ích của bản thân họ chỉ đạt được khi lợi ích của doanh nghiệp đạt được, tức là phải hướng mục tiêu của cá nhân theo mục. tiêu của tổ chức. Làm được điều đó chính là tạo ra động lực làm việc cho người lao động, và ñó chính là khả năng tiềm tàng để tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp.2 Nhu cau: Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần đề tồn tại và phát triển.
Theo như khái niệm trên có thê thấy nhu cầu của mỗi một con người nó. gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như của cộng đồng và tập thể xã hội hơn nữa nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi, mỗi người khác nhau lại có những nhu cầu khác nhau, trong xã hội việc thực hiện các nhu cầu khác nhau cũng tùy thuộc vào từng quan điểm của mỗi cá nhân, khi nhu cầu chưa được thỏa mãn hay chưa được đáp ứng sẽ tạo cho con người tâm lý căng thẳng và càng kiến cho con người luôn luôn phải tìm cách thỏa mãn hay đáp ứng các nhu cầu đó. Người lao động cũng như vậy họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn, mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao để thỏa mãn những mong muốn đó và ngược lại. Hệ thống nhu cầu của con người rất phức tạp tuy nhiên hệ thống nhu cầu đó được chia ra thành ba nhóm.
nhu cầu chính đó là: hệ thống nhu cầu về vật chất, hệ thống nhu cầu vẻ tỉnh thần và hệ thống nhu cầu xã hội.3 Lợi ích: “Theo quan điểm của C. Ăng-ghen, lợi ích được hiểu là sản phẩm kết tỉnh từ hoạt động của con người, liên quan và thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, được đặt trong quan hệ giữa con người với con người và lợi ích là mức độ đáp ứng nhu cầu về vật chất và tỉnh thần do công việc đó tạo ra 'Như vậy lợi ích sẽ được hiểu là thành quả mà người lao động nhận được bằng vật chất hay tỉnh thần mà người lao động đạt được khi tham gia vào quá trình lao động, sản xuất hoặc các hoạt động khác trong tô chức cũng như trong. Vì vậy lợi ích có vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động quản lý cũng như trong hoạt động lao động sản xuất của con người, lợi ích giúp tạo ra động. lực mãnh mẽ cho các hoạt động con người, kiến cho con người luôn phải tim tòi sáng tạo hoạt động trí não đề có lợi ích và thỏa mãn nhu cầu của mình.
Đối với các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý cũng như nhà quản trị khi tìm hiểu cũng như nắm bắt được tâm lý về lợi ích của người lao động sẽ có những biện pháp. phủ hợp nhằm khuyến khích người lao động làm việc hiệu quả đem lại năng suất cao trong công việc.