mở đầu, kết luận, phụ lục và ba (3) chương cụ thể như. Chương l: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động, cán bộ nhân viên trong tổ chức Chương 2: Thực trạng về công tác tạo động lực làm việc cho người lao động, cán bộ nhân viên tại Agribank Chỉ nhánh tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động, cán bộ nhân viên tại Agribank Chỉ nhánh tỉnh Quảng Ngãi 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu *Nghiên cứu của Herzberg (1959), Two Factor Theory: Motivation Factors”. Herzberg (1959) là nhà tâm lý học người Mỹ, Ông đã xây dựng thuyết hai nhân tố này dựa trên cuộc phỏng vấn 200 người lao động kế toán và kỹ sư từ 11 nghành công nghiệp tại khu vực Pittsburhg Pennsylvania.
Kết quả liệu thu thập được Herzberg (1959) đã kết luận rằng con người có hai nhân tố cơ bản, độc lập với nhau và có ảnh hưởng tới hành vi theo cách khác nhau. Nghiên cứu đã chỉ ra có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc là các nhân tổ thúc đẩy và nhân tố duy trì. * Nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) dựa trên lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, hai tác giả đã đề ất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia ”. Kết quả các phân tích đã chứng minh rằng biến động lực quan trọng nhất là điều kiện làm việc.
Sự công nhận là yếu tố đáng kể thứ hai, tiếp theo chính sách công ty và các yếu tố tài chính. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong việc tạo động. lực cho nhân viên bán hàng. “Nghiên cứu của Chomg-Guang Wu (2007) dựa trên thuyết kỳ vọng của Vietor Vroom *.
Nghiên cứu tiến hành kiểm định mô hình và đã kết luận ring các yếu tố giúp đỡ đồng nghiệp, đánh giá công bằng, phát triển nghề nghi cam kết của tô chức, đáp ứng nhu cầu cá nhân là những yếu tố tác động đến động lực của nhân viên. *Nghiên cứu của Pamela Akinyi Omollo (2015). Thực hiện nghiên cứu. 50 nhân viên ngân hàng đang làm việc tại KCB Migori-Kenya của Pamela Akinyi Omollo (2015) đã xác định được bốn nhân tố ảnh hưởng đến động.
lực làm việc của người lao động: (1) Lương và các ưu đãi tài chính, (2) Công. việc thú vị và được ghi nhận, (3) Đảo tạo nguồn nhân lực, (4) Đồng nghiệp. Bốn nhân trên ảnh hưởng đáng kẻ đến động lực làm việc của nhân viên bởi vì đa số các khảo sát cho thấy rằng họ bị thúc đây bởi tiền lương, thưởng, các ưu đãi tài chính khác như bảo hiểm, phúc lợi. Nhân tố Công việc thú vị và được ghi nhận cho thấy rằng họ cảm giác được quyết định, được tham gia vào.
công việc của mình, môi trường làm việc và khối lượng công việc trung bình sẽ tạo được động lực cho họ đẻ thực hiện nhiệm vụ. Nhân tố Đảo tạo nguồn nhân lực là rất quan trọng đối với tất cả nhân viên vì nó khiến họ có thể thích. ứng được với môi trường làm việc có nhiều thay đổi nếu họ được đảo tạo bài bản, chuyên nghiệp. Nghiên cứu của Fang Yang (2011): Bài “nghiên cứu của Fang Yang.
mục tiêu tìm hiểu động lực làm việc của người lao động ở Trung. u gì thúc đẩy người lao đông Trung Quốc làm việc và những ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân đến động lực làm việc cho người lao động ở Trung Quốc là gì”. Và kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả 15 nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc: (1) Lương, (2) Sự thăng tiến, (3) Môi trường. làm việc, (4) Phúc lợi, (5) Khen thưởng, (6) Chính sách công ty, (7) Đồng nghiệp, (8) Cấp trên, (9) Công việc ổn định, (10) Được thể hiện, (11) Thách thức và thành tích, (12) Sự công nhận, (13) Sự tự chủ, (14) Tự thực hiện, (15) Công việc thú vị.
Trong đó, nhân tố lương là động lực quan trọng nhất cho người lao động ở Trung Quốc và động lực làm việc của nhân viên còn bị ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân. Những phát hiện trên của Fang Yang (2011) có thể giúp cho các tổ chức ở Trung Quốc và ở Ninh Ba thúc đẩy nhân viên của họ làm việc một cách hiệu quả nhất. Giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của Trần Kim Dung (201 1) đã chỉ rõ những tác động của các công cụ tạo động lực thúc đấy đối với người lao động làm việc ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào việc tổ chức, đơn vị áp dụng các công cụ đó như thế nảo. Nghiên cứu của Trương Minh Đức về *Tạo động lực làm việc tại công ty.
TNHH Eriesson tại Việt Nam (Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 27(2011), trang 240-247)" vấn đề tuyển dụng và bố trí sử dụng đúng. người, đúng việc là quan trọng nhưng khuyến khích, động viên, tạo động lực cho nhân viên phát huy tối da khả năng trí tuệ của bản thân mới la van dé then chốt nhất trong việc sử dụng lao động. Đề tạo động lực làm việc cho nhân viên, nhà quản lý cần phải thấu hiểu nhu cầu làm việc của nhân viên, họ làm vì cái gì, điều gì thúc day ho làm việc hãng say dé từ đó có cách thức tác động. Nghiên cứu cho thấy có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tạo đông lực làm việc của nhân viên; thứ nhất là nhu cầu vật chất của cuộc sống thông qua nhu cầu tăng lương và các thu nhập khác ngoài lương; thứ hai là điều kiện cơ sở vật chất làm việc của nhân viên, mối quan hệ với đồng.
nghiệp, vị trí trong tổ chức; thứ ba là nhu cầu được thể hiện năng lực bản thân như muốn có cơ hội được học tập phát triển chuyên môn, mong muốn có cơ. hội thăng tiến để thể hiện năng lực cảu bản thân, được chủ động trong công. việc và có công việc phù hợp để phát huy chuyên môn nghiệp vụ và nhu cầu phát triển các mối quan hệ trong tổ chức như mỗi quan hệ với lãnh đạo, với khách hàng. Luận án tiến của Nguyễn Thị Phương Lan thuộc Học viện Hành chính Quốc gia (2015) vị loàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước”.
Trong luận án của mình Nguyễn Thị Phương Lan đã tổng hợp và hệ thống hóa được các khái niệm, lý luận về động lực cũng như tạo động lực làm việc một cách cơ bản; luận án cũng đã nắm bắt và phân tích được những điểm khác biệt giữa động lực và các yếu tố giữa tạo. đông lực của công chức cơ quan hành chính nhà nước so với tạo động lực của người lao động ở khu vực ngoài nhả nước. Luận án đã xây dựng được một nên tảng lý thuyết hoàn chỉnh về hệ thống công cụ tạo động lực cho công. chức hành chính nhà nước, từ đó đóng góp phần nào trong việc giải quyết tình trạng thiếu sự gắn bó với khu vực công, năng suất lao động giảm, hiệu quả kém và các biểu hiện tiêu cực đã và đang là những nguyên nhân chính yếu khiến cho nền công vụ có nhiều hạn chế, yếu kém Nghiên cứu của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Anh Đức (2020) về “Các yếu tố tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức Ủy ban nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước (Tạp chí công thương, số tháng.
Bài ghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định các yếu tố tạo động lực hay các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc cho cán bộ, công. chức, viên chức UBND thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước và đề xuất các chính sách cơ bản giúp Ban lãnh đạo thị xã Bình Long thúc đây động lực làm việc cho cán bộ công chite, vii chức thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Sir dụng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, ky thuật phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đã được sử dụng; kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức UBND thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. bao gồm 6 yếu tố, cụ thể: Môi trường và điều kiện làm việc; Thu nhập và phúc lợi; Đào tạo và thăng tiến; Khen thưởng và công nhận; Quan tâm, hỗ trợ của lãnh đạo; Vốn xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đề xuất một giải pháp nhằm góp phần đây mạnh động lực làm việc cho cán bộ công chức, viên chức thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước Nghiên cứu của Phan Thị Hồng Hoa (2015) "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động Bưu Điện thảnh phó Hồ Chí Minh”. Qua kết quả nghiên cứu của Phan Thị Hồng Hoa (2015) đã xác định được 8 yếu tố tác động đến động lực làm việc của người lao động đó là:*(1) Công việc thú vị và thách thức, (2) Quản lý trực tiếp, (3) Lương và phúc lợi, (4) Được tự chủ trong công việc, (5) Khen thưởng và công nhận, (6) Đồng nghiệp, (7) Diéu kién lam viée, (8) Trach nhiém xa hdi”. Nghiên cứu của Phan Hoàng Trọng (2017): Phan Hoàng Trọng (2017) đã “Nghiên cứu về động lực làm việc cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam ~ Chỉ nhánh Gia Lai”. Qua kết quả nghiên cứu cho.
thấy có 6 yếu tố ảng hưởng đến động lực làm việc đó là: “(1) Công việc thú vi, (2) Môi trường làm việc, (3) Sự tự chủ trong công việc, (4) Sự đảm bảo trong công việc, (5) Sự thăng tiến và phát triển nghề nghiệp, (6) Sự gắn bó và hỗ trợ của cấp trên”. Nghiên cứu của Chu Tuấn Anh (2017) về “Giải pháp tạo động lực cho. người lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bản Thành phố Đà Nẵng dựa trên tháp nhu cầu của Maslow (Tạp chí công thương, số tháng 11/2017)”. Dựa trên lý thuyết của tháp nhu cầu Maslow, tac gia da tìm hiểu phân tích sau đó trình bày các giải pháp dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Đà Nẵng nhằm tạo động lực cho người lao động và tăng năng suất lao động, đảm bảo các lợi ích của người lao động và lợi ích của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Có thể thấy các nghiên cứu trên đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát và những nhận định về các nhân tố tạo động lực cho người lao động, song.