CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỌNG 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu Theo PGS. TS Trin Kim Dung (2012), Nhu cau là những đòi hỏi, mong.
muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh than can được đáp ứng và thỏa mãn, Nhu cầu là trạng thái tâm sinh lý của con người nhằm mong muốn đạt được cái gì đó.28] Nhu cau được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người mong muốn thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó, gắn liễn với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đỏng và tập thể xã hội. Nhu cầu có thể chia thành 2 nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chat gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người. Nhu cầu tỉnh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý.
Ngày nay với xu hướng phát triển của nền kinh tế, việc tìm hiểu đúng nhu. cầu của người lao động là một cách tiếp cận hữu hiệu để nhà quản trị có những, cách thức phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu cũng như tạo môi trường làm việc thuận lợi để người lao động yên tâm làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp. Động lực “Dong luc” 1a từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Các nhà quản trị luôn muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng “động lực của.
người lao động là gì?”. Có thể khái quát: Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi người lao động. Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được. Cần phân biệt hai khái niệm động lực và động cơ: cả động lực va động cơ đều hết sức quan trọng nhưng động lực có tính bền vững hơn, là yếu tố “gốc rễ", bản chất.
Ví dị ý do hàng ngày chúng ta đi làm là vì hàng tháng ta cần có một số tiền để chỉ tiêu vào một việc gì đó. Đó chính là động cơ, còn việc sử dụng tiền kiếm được vào “một việc gì đó” chính là động lực. Động lực thường mang tính bền vững và dài hạn, động cơ thường mang tính ngắn hạn, nhất thời và có bề nồi. Như vậy, động lực xuất phát từ chính bản thân mỗi người.
Đây là một trạng thái nội tại, cung cắp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích. Ở những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau, đông lực của mỗi người cũng khác nhau. Động lực lao động. 'Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm có một quan điểm khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chat của động lực lao động.
Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao đông là sự khát khao và tự nguyện của người lao động đề tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Bùi Anh Tuần: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tô chức cũng như bản thân người lao.9] Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của người lao động. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thẻ ma mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Mỗi người lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau đề làm tích cực hơn. Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tô chức cũng như bản thân người lao động. Tạo động lực lao động Vị tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho người lao động trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Theo PGS, TS Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý dé tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phắn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”. Bui Anh Tuan: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. [8, tr91] Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có đông lực trong công việc, thúc đây họ hải lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tô chức, doanh nghiệp.
CAC HQC THUYET LIEN QUAN DEN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Maslow (1908-1970) 1a một nhà tâm lý học người Mỹ. Ông được thế 10 giới biết đến qua mô hình nôi tiếng tháp nhu cầu. Khi nghiên cứu về động lực lao động, Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn và được chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác.
nhau theo tầm quan trọng được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao như sau: Nhà sản “Nhu cầu an toàn. sức thấp Nhu cầu sinh lý: Hình 1. Hệ thống nhu cầu cia Maslow ~ Nhu cầu sinh lý: Trong năm loại nhu cầu trên nhu cầu về sinh lý là nhu cầu thấp nhất của con người. Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc số người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm.
Khi những nhu cải được thoả mãn tới mức độ cần thiết đề duy trì cud của con người sẽ không th thêm nữa. ~ Nhu cầu về an toàn: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp. Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người ~Nhu cầu xã hội: là một trong những nhu cầu bậc cao của con người, bao gồm nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được yêu thương, sự gần gũi: thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tỉnh yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này. Ml ~ Nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng.
tự trọng và được người khác tôn trọng. ~ Nhu cầu tự hoàn thiện: là nhu cầu bậc cao nhất, đó là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình; là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, hoặc là nhu cầu đạt được các thành tích mới, nhu cầu sáng tạo. “Theo Maslow: Sự thoả mãn nhu cầu của các cá nhân bắt đầu từ nhu cầu thấp nhất, các nhu cầu dưới được thoả mãn thì nhu cầu trên mới xuất hiện. Nhà quản lý muốn tạo động lực cho người lao động của họ thì trước hết nhà quản lý phải hiểu được người lao động đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc nhu cầu, từ đó có định hướng vào sự thoả mãn nhu cầu đó của họ để chính sách tạo động lực đạt được kết quả cao nhất 1.
Học thuyết hệ thống hai yếu tố của F. Herzberg đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn công việc và tạo động lực và chia các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn trong, công việc thành 2 nhóm, bao gồm: nhóm các yếu tố thuộc về công việc và nhu cầu bản thân của người lao động và nhóm các yếu tố thuộc về môi trường, tổ chức. Herzberg đưa ra hệ thống hai yếu tố về sự thoả mãn công việc và tạo động lực trong lao động. Ông chia các yếu tố tác động đến người lao động thành hai nhóm, nhóm yếu tố có tác dụng tạo động lực cho người lao động và nhóm các yếu tố duy trì (thuộc về môi trường tô chức).
Nhóm 1: Các yếu tố then chốt để tạo động lực và sự thoả mãn trong. công việc ~ Sự thành đạt ~ Sự thừa nhận thành tích ~ Bản chất bên trong công việc. - Trách nhiệm lao động 12 ~ Sự thăng tiến Nhóm 2: Các yếu tố thuộc về môi trường tô chức ~ Các chính sách và chế độ quản trị của công ty ~ Sự giám sát công việc ~ Tiền lương ~ Các quan hệ con người ~ Các điều kiện làm việc Để tạo động lực cho nhân viên làm việc, F. Herzberg gợi ý cần chú ý đến các nhân tổ liên quan đến bản thân công việc hay những tác động trực tiếp từ công việc đó như: cơ hội thăng tiến, cơ hội phát triển cá nhân, sự công nhận, trách nhiệm và thành tích.
“Trên thực tế không phải yếu tố nào tác động đến người lao động đều tác động đến động lực lao động và sự thoả mãn công việc (nhóm 1) hay duy trì động lực và sự thoả mãn (nhóm 2). Mặc dù vậy qua học thuyết này của Herzberg đã giúp các nhà quản lý nhận ra được vai trò của việc tạo động lực cho người lao động. Thuyết công bằng được phát triển bởi J. stacy Adams Thuyết công bằng là một lý thuyết về sự động viên nhân viên do John.
Stacy Adams, một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đưa ra vào năm 1963. Học thuyết công bằng phát biểu rằng người lao động so sánh những gì họ bỏ vào một công việc (đầu vào) với những gì họ nhận được từ công việc đó (đầu ra) và sau đó đối chiếu tỷ suất đầu vào — đầu ra của họ với tỷ suất đầu vào — đầu ra của những người khác.