CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VE DONG LUC LAM VIEC CUA NHAN VIEN TRONG DOANH NGHIEP 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BAN 1. Động cơ làm việc Theo từ điển tiếng Việt (1996), động cơ “i2 cái có tác dụng chỉ phối, thúc đây người ta suy nghĩ và hành động” [18] Lương Văn Úc (2011) định nghĩa “Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óe con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu câu và tình cảm của họ” [19], 'Vũ Dũng (2006), “động cơ cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn như câu và tình cảm của họ [5, tr. 240] Như vậy, động cơ làm việc là thái độ, ý thức chủ quan của con người đối với hành động của mình.
Động cơ gắn liễn với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu của bản thân mỗi cá nhân đó. Nhu cầu của con người khá đa dạng, nên tùy theo đặc điểm tâm sinh lý mà mỗi người khác nhau có nhu cầu khác nhau và các nhu cầu của mỗi người không ôn định, luôn biến đổi theo thời gian. Có hai nhóm nhu cầu đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần. Khi được thỏa mãn các nhu cầu này, con người sẽ có động cơ, động lực làm việc, thúc đẩy con người làm việc hiệu quả hơn.
Do đó, quản lý doanh nghiệp cần phải nắm được động cơ làm. việc để tìm cách thỏa mãn các động cơ đó. Động lực Theo Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu [22]. Higgins (1994) cho rằng động lực là lực đây từ bên trong cá nhân đề đáp.
ứng các nhu cầu chưa thỏa mãn [26]. Kreitner (1995) định nghĩa động lực là một quá trình tâm lý, định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. I2] Từ điển Tiếng Việt (1996) cho rằng động lực là “năng lượng làm cho. máy móc chuyền động; hay là cái thúc đây, làm cho phát triển”.
Nhiều người thường nhằm lẫn động lực và động cơ. Có thể hiểu đơn giản, động cơ là bộ phân quan trọng nhất của một bộ máy giúp bộ máy đó chuyển động; trong khi đông lực là nhiên liệu giúp cho động cơ vận hành” [18] Maier (1973) và Lawler (1973) định nghĩa động lực là sự khát khao, tự nguyện của mỗi cá nhân [29. Theo hai ông, mô hình kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năngx Động lực Khả năng — Khả năng bâm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khátx Tự nguyện Mô hình này cho thấy động lực có tác động rất lớn đến việc hoàn thành công việc của mỗi cá nhân. Cùng trình độ, chuyên môn, người lao động phải có động lực làm việc dé đạt được hiệu quả công việc cao.
Quá trình phát triển của tổ chức đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của tit cả các thành viên đẻ đáp ứng, nhu cầu tồn tại, phát triển của tô chức đó. Người lao động có động lực càng cao cảng muốn học tập, trau đồi bản thân và khi khả năng tăng, động lực làm việc của họ tăng. Như vậy, động lực chính là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Động lực làm việc Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, động lực làm việc là “sự khao khát vẻ tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ.128] 10 Trong giéo trinh Hanh vi 6 chite cua Bui Anh Tuan — Pham Thúy Huong, “động lực lao động là nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao ” [7, tr.85] Trin Thi Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy (2011) cho rằng “động lực thúc đẩy và sự thoả mãn là khác nhau.
Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cô gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định còn sự thoả mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Như vậy, động cơ thúc đẩy ngụ ý xu thể đi tới một kết quả, còn sự thoả mãn là một kết quả được thực hiện ” [4] Như vậy, động lực làm việc là sự thôi thúc tự nguyện bên trong mỗi con người để nỗ lực thực hiện các mục tiêu đã đề ra của cá nhân và mục tiêu chung của tổ chức. Bản chất của động lực gồm: + Luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trường làm việc cụ thể. Như vậy nhà quản lý phải hiểu rõ công việc, môi trường làm việc để đưa ra các biện pháp tạo động lực cho người lao động.
+ Các nhà quản lý phải có các biện pháp hữu hiệu để tạo động lực cho người lao động, giúp họ chủ động, tự giác trong công việc dé đạt được các kết quả tốt nhất. Bất cứ sự ép buộc làm việc nào hay làm việc trên tỉnh thần không tự nguyện cũng không thẻ mang lại chat lượng công việc như mong muốn. + Động lực không phải đặc tính cá nhị , không phải bản năng vốn có của con người khi sinh ra mà nó luôn thay đổi theo từng thời điểm, từng loại công việc nhất định. + Động lực làm việc giúp tăng năng suất cá nhân và sản xuất kinh doanh hiệu quả trong, kiện các nhân tố khác không đổi.
Tuy nhiên, động. lực là nguồn gốc, không phải nhân tố tất yếu quyết định hiệu quả, năng suất 1 công việc bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ, năng lực, tay nghề, công cụ lao động,. Thực tế cho thấy, người lao động không có động lực làm việc vẫn có thể hoàn thành công việc bởi họ có trình độ, nghĩa vụ, trách nhiệm phải hoàn thành nhưng kết quả công việc chắc chắn sẽ không. đạt được tối đa và những cá nhân này thường có xu hướng rời bỏ tổ chức.
Tạo động lực làm việc Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn và Pham Thúy Hương, “tạo động lực được hiểu là hệ thắng các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong lao động" [11, tr87] Nguyễn Văn Điểm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) cho rằng tạo động lực làm việc là “rất cá những hoạt động mà doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao động. tác động đến khả năng làm việc tình thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động” (6). Nêu xuất phát từ nhu cầu, quá trình tạo động lực gồm các bước sau: Nhukhôngcầu. Sự Các„ ` Hành › Nhu cầu | | Giảm được thỏa | † căng [+| đông [+ vitim FH được mãn thắng FH cang cơ kiếm thỏa mãn thắng Nguồn: Bài giảng môn Quản trị nhân lực của TS.
Nguyễn Thị Uyên “Tạo động lực cho người lao động là tập hợp các biện pháp mà nhà quản trị sử dụng để tạo động cơ cho người lao động như mục tiêu vừa phù hợp với doanh nghiệp, vừa mang lại lợi ích cho người lao động. Tuy nhiên, muốn các 12 mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, khiến người lao động sáng tạo, hết lòng vì công việc, nhà quản lý phải xác định rõ mục đích hướng tới của người lao động. Trong quá trình lao động, người lao động luôn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chứ. Do đó, tỉnh thần, thái độ của họ có xu hướng thay đồi, thậm chí là giảm sút khi họ không.
muốn gắn bó với tổ chức nữa. Vì vậy, để giúp người lao động hăng hái, tích cực, hết lòng vì công việc, có tinh thần trách nhiệm cao, tổ chức phải sử dụng các biện pháp kích thích động lực làm việc đúng đắn và kịp thời. Nhà quản lý hoàn toàn có thể dự đoán được hành động của người lao động qua động cơ và nhu cầu của họ. Vi vay, tao động lực cho người lao động là tất cả những hoạt động mà một tổ chức hay doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến tỉnh thần, thái độ, khả năng làm việc nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
“Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay lợi ích tạo ra đông lực trong lao động. Tuy nhiên, trên thực tế, động lực được tạo ra ở một mức độ nào đó bằng nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như. một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực, phải tác động vào nó, kích thích nó và gia tăng hiệu quả của lao động trong công, việc.
Như vậy, có thê kết luận rằng, tạo động lực là việc sử dụng các biện pháp kích thích người lao động bằng cách tạo ra cơ hội để họ thực hiện các mục tiêu của mình. Vai trò của tạo động lực làm việc trong doanh nghiệp Tao động lực làm việc có vai trò rất quan trọng giúp tăng hiệu suất, hiệu quả làm việc cho doanh nghiệp. Động lực lao động là sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đây họ làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân người lao động 13 Bất cứ người lao động nào đều có nhu cầu được thỏa mãn về cả hai mat vật chất và tỉnh thần.
Họ sẽ có tâm lý thoải mái, làm việc hăng say hơn nếu. các nhu cầu của họ được thỏa mãn. Đối với cá nhân người lao động, không có. động lực, công việc không thể hoàn thành và đạt được mục tiêu bởi họ chỉ làm việc theo nghĩa vụ theo hợp đồng chứ không có sự sáng tạo, cố gắng nào.
Do đó, nhà quản lý phải thúc đây tính sáng tạo và năng lực làm việc của nhân viên. Người lao động chỉ hoạt động tích cực khi họ được thỏa mãn các nhu cầu của bản thân thông qua lợi ích mà họ được hưởng. Khi lợi ích họ nhận được không tương xứng với công sức mà họ đã bỏ ra, họ cảm thấy bất bình, chán nản, làm việc không tập trung. Do đó, lợi ích trả cho người lao động phải tương xứng với những gì họ bỏ ra mới có thể tạo ra động lực làm việc.
Động lực làm việc còn giúp người lao động tự hoàn thiện mình. Khi có động lực, người lao động sẽ nỗ lực học hỏi, phần đấu, tự trau dỗi năng lực cho bản thân, từ đó nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn để tự hoàn thiện mình hơn b.