Tổng quan nghiên cứu

Năm 2019, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt con số ấn tượng khoảng 3.124 tỷ đồng, đạt 126,3% kế hoạch pháp lệnh được giao và bằng 109% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt 2.870 tỷ đồng, đạt 128,53% kế hoạch. Dù đạt được những chỉ số tăng trưởng tích cực, công tác quản trị nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Kon Tum đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Quyết định số 520/QĐ-BTC ngày 13/4/2018 của Bộ Tài chính, cơ quan đã sáp nhập, tinh giản bộ máy, cắt giảm 03 chức danh Chi cục trưởng và 08 chức danh Đội trưởng đội Thuế. Quá trình tái cấu trúc này tạo ra nhiều xáo trộn về tâm tư, địa điểm công tác và vị trí việc làm của cán bộ.

Đề tài nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thị Yến Nhi được triển khai nhằm đánh giá thực trạng nguồn nhân lực gồm 263 công chức và 71 lao động hợp đồng, đồng thời phân tích các nhân tố tác động trực tiếp đến động lực thực thi công vụ. Nghiên cứu xác định các khoảng trống trong chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và phân công nhiệm vụ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tinh thần làm việc cho cán bộ công chức.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ Văn phòng Cục Thuế tỉnh Kon Tum, Chi cục Thuế thành phố và các Chi cục Thuế huyện, Chi cục Thuế khu vực trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc tối ưu hóa hiệu suất làm việc, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ thu ngân sách luôn vượt trên 100% kế hoạch hàng năm và hạn chế tỷ lệ công chức xin chuyển công tác hoặc thôi việc trong kỷ nguyên hiện đại hóa ngành thuế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba học thuyết quản trị nhân sự nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu. Thứ nhất là Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) với 5 bậc nhu cầu từ sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng đến thể hiện bản thân. Thứ hai là Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg (1959), chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa các nhân tố duy trì (tiền lương, chính sách cơ quan, điều kiện làm việc) và các nhân tố thúc đẩy (sự thành đạt, sự thừa nhận, tính chất công việc, cơ hội thăng tiến). Thứ ba là Thuyết X và Thuyết Y của Douglas McGregor (1960), cung cấp góc nhìn về hành vi con người và định hướng phong cách quản lý nhân văn, trao quyền.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm cốt lõi: nhu cầu, động cơ thúc đẩy, động lực làm việc và hoạt động tạo động lực làm việc. Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 6 biến độc lập: Đặc điểm công việc, Thu nhập và phúc lợi, Môi trường làm việc, Đánh giá thành tích, Cơ hội đào tạo và thăng tiến, Sự hỗ trợ của lãnh đạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Về định tính, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với 20 công chức để hiệu chỉnh thang đo khảo sát cho sát với thực tiễn ngành thuế địa phương. Về định lượng, tác giả phát phiếu khảo sát và thu thập dữ liệu sơ cấp từ 171 công chức trong tổng số 263 công chức đang làm việc tại Cục Thuế tỉnh Kon Tum.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với quy mô mẫu 171 người (chiếm tỷ lệ 65% tổng thể biên chế) được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê cao, phản ánh đầy đủ ý kiến của các phòng chức năng và các chi cục trực thuộc. Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel thông qua các kỹ thuật thống kê mô tả, tính điểm trung bình thang đo Likert 5 mức độ và phân tích tỷ lệ phần trăm. Lý do lựa chọn phương pháp này là tính trực quan, phù hợp với đặc thù đánh giá các chính sách hành chính công.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo nhân sự giai đoạn 2018–2020 của Phòng Tổ chức cán bộ, các văn bản pháp quy như Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương, Nghị định số 68/2000/NĐ-CP về hợp đồng lao động, Nghị quyết số 18-NQ/TW và Luật Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu nhân sự, tính đến tháng 05/2020, Cục Thuế tỉnh Kon Tum có tổng số 334 nhân sự, trong đó công chức chiếm 78,7% (263 người) và lao động hợp đồng chiếm 21,3% (71 người). Tỷ lệ nam giới chiếm 66,2% (174 người), nữ giới chiếm 33,8% (89 người). Độ tuổi tập trung chủ yếu từ 35 đến 50 tuổi với tỷ lệ 68,1% (179 người), nhóm dưới 35 tuổi chỉ chiếm 8,0% (21 người), trong khi nhóm trên 50 tuổi chiếm 24,0% (63 người). Trình độ chuyên môn đạt chuẩn khá cao với 61,6% đại học (162 người) và 16,0% thạc sĩ (42 người). Đáng chú ý, toàn đơn vị có tới 102 người giữ chức vụ lãnh đạo quản lý trên tổng số 263 công chức (chiếm 38,8%), cá biệt tại Chi cục Thuế Khu vực số 1 tỷ lệ lãnh đạo chiếm đến 68,4% (13 trên 19 người).

Thứ hai, kết quả khảo sát thang đo Likert cho thấy nhiều điểm nghẽn trong công tác tạo động lực:

  • Mức độ hứng thú với công việc đạt điểm rất thấp với giá trị trung bình 2,61/5 điểm.
  • Tính hợp lý trong phân công công việc chỉ đạt mức 2,99/5 điểm.
  • Sự rõ ràng của nhiệm vụ và trách nhiệm được giao đạt 2,74/5 điểm.
  • Mức độ không bị áp lực công việc chỉ đạt 2,90/5 điểm.
  • Ngược lại, tiêu chí công việc phù hợp năng lực (3,60/5 điểm) và nhận được thông tin kịp thời (3,69/5 điểm) được đánh giá ở mức tương đối tốt.

Thảo luận kết quả

Thực trạng điểm số hứng thú công việc thấp (2,61 điểm) bắt nguồn từ tính chất chuyên môn ngành thuế mang tính khuôn mẫu, thủ tục hành chính phức tạp và áp lực hoàn thành dự toán thu ngân sách đè nặng lên từng bộ phận. Để người quản lý nắm bắt rõ ràng mức độ chênh lệch giữa các chỉ số, dữ liệu khảo sát này có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh điểm trung bình giữa 6 nhóm nhân tố động lực, kết hợp với bảng ma trận cơ cấu nhân sự để làm nổi bật khoảng cách giữa cán bộ lãnh đạo và chuyên viên nghiệp vụ.

Tình trạng mất cân đối nhân sự khi có tới 38,8% công chức giữ chức danh quản lý và sự thiếu hụt cán bộ chuyên môn buộc cơ quan phải giao việc nghiệp vụ cho 71 nhân viên hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP. Điều này tạo ra sự chồng chéo về quyền hạn và trách nhiệm, ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý thi đua. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Phan Thị Hà Giang (2015) tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang và Nguyễn Thị Thanh Huê (2017) tại Cục Thuế tỉnh Kon Tum. Đồng thời, chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP khiến nhóm công chức trên 50 tuổi có xu hướng nghỉ hưu sớm, tạo ra khoảng trống kinh nghiệm khi nhóm công chức trẻ dưới 35 tuổi chỉ chiếm vỏn vẹn 8,0%.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc vị trí việc làm và chuẩn hóa phân công công việc. Lãnh đạo Cục Thuế tỉnh Kon Tum cùng Phòng Tổ chức cán bộ cần tiến hành rà soát 100% bản mô tả công việc trong giai đoạn 2021–2022. Chấm dứt việc phân công nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ thuế cho nhân viên hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP, đưa chỉ số hài lòng về tính rõ ràng của nhiệm vụ từ mức 2,74 lên trên 3,80 điểm.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế đánh giá thành tích và phân phối thu nhập tăng thêm. Cục Thuế cần xây dựng bộ chỉ số KPI đo lường kết quả công việc hàng tháng gắn với các mốc thời gian giải quyết hồ sơ và tỷ lệ thu hồi nợ đọng thuế. Đảm bảo 100% việc bình xét nâng lương trước thời hạn 6, 9 và 12 tháng được công khai, minh bạch theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP, hoàn thành triển khai trong năm 2021.

Thứ ba, nâng cấp môi trường làm việc và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Văn phòng Cục và Phòng Tin học cần hoàn thiện hạ tầng số, tự động hóa 100% các khâu trung gian trong tiếp nhận hồ sơ thuế điện tử giai đoạn 2021–2023. Giải pháp này giúp cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục giấy tờ, giải tỏa áp lực công việc cho bộ phận một cửa và đội kiểm tra thuế.

Thứ tư, đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo và phát triển cán bộ. Phòng Tổ chức cán bộ cần tổ chức bồi dưỡng định kỳ cho ít nhất 40% lượt công chức mỗi năm về kỹ năng phân tích rủi ro và quản trị số. Đồng thời, thực hiện quy hoạch bổ nhiệm lãnh đạo công bằng, ưu tiên nâng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy và ban lãnh đạo các phòng, chi cục lên trên 25% trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Lãnh đạo và cán bộ làm công tác tổ chức tại Cục Thuế tỉnh Kon Tum. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm và số liệu cụ thể để đơn vị sắp xếp lại cơ cấu 102 vị trí lãnh đạo, phân bổ biên chế hợp lý và tối ưu hóa quy chế chi trả thu nhập tăng thêm.

Nhóm thứ hai là Ban lãnh đạo các Cục Thuế và cơ quan hành chính nhà nước trên toàn quốc. Các đơn vị có thể ứng dụng case study thực tế này để quản trị sự thay đổi, ổn định tư tưởng cho đội ngũ công chức khi triển khai sáp nhập chi cục và sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW.

Nhóm thứ ba là Học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý công. Nghiên cứu đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận, cách thức thiết kế thang đo 6 nhân tố và kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát trên mẫu 171 công chức.

Nhóm thứ tư là Đội ngũ công chức và người lao động ngành thuế. Tài liệu giúp công chức nắm vững quyền lợi về nâng lương trước hạn, hiểu rõ các tiêu chí đánh giá KPI và chủ động xây dựng lộ trình thăng tiến nghề nghiệp trong môi trường công vụ.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn giải quyết vấn đề cấp bách nào của ngành thuế Kon Tum? Luận văn tập trung tháo gỡ sự suy giảm động lực làm việc của 263 công chức trong bối cảnh sáp nhập bộ máy và tinh gọn biên chế, cắt giảm 03 Chi cục trưởng và 08 Đội trưởng theo Nghị quyết 18-NQ/TW, giúp duy trì chỉ tiêu thu ngân sách vượt mức 3.124 tỷ đồng.

Cỡ mẫu khảo sát 171 công chức có đảm bảo độ tin cậy khoa học không? Cỡ mẫu 171 trên tổng số 263 công chức đạt tỷ lệ đại diện 65,0%, kết hợp cùng phỏng vấn sâu 20 cán bộ. Tỷ lệ này đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kiểm định thống kê xã hội học, đảm bảo tính khách quan và bao quát toàn bộ các phòng ban, chi cục.

Nguyên nhân chính khiến công chức thuế cảm thấy công việc chưa thú vị là gì? Điểm đánh giá hứng thú chỉ đạt 2,61/5 điểm do tính chất công việc hành chính thuế mang tính lặp lại, quy trình xử phạt khô khan và áp lực quản lý nợ đọng thuế cao, trong khi cơ hội giao lưu học hỏi chuyên môn còn hạn chế.

Tỷ lệ cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo tại đơn vị có điểm gì bất cập? Toàn cơ quan có tới 102 người giữ chức vụ lãnh đạo trên 263 công chức, chiếm tỷ lệ 38,8%. Cá biệt tại một số Chi cục tỷ lệ này lên đến 68,4%, gây ra hiện tượng mất cân đối nhân lực giữa công tác quản lý và thực thi chuyên môn.

Các giải pháp đề xuất có khả thi trong điều kiện cơ quan nhà nước không? Các giải pháp hoàn toàn khả thi vì được xây dựng dựa trên khung pháp lý sẵn có như Luật Cán bộ, công chức năm 2019 và Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, tập trung vào đổi mới quy chế đánh giá KPI nội bộ và chuyển đổi số quy trình quản lý thuế.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý thuyết tạo động lực làm việc trong khu vực công dựa trên các học thuyết của Maslow, Herzberg và McGregor.
  • Đánh giá thực chứng chính xác cơ cấu 334 nhân sự tại Cục Thuế tỉnh Kon Tum giai đoạn 2018–2020, chỉ ra tỷ trọng 38,8% cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo.
  • Nhận diện các hạn chế trọng tâm gồm mức độ hứng thú công việc thấp (2,61/5 điểm) và áp lực công việc gia tăng sau khi sáp nhập bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW.
  • Đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược về chuẩn hóa vị trí việc làm, minh bạch nâng lương trước hạn, số hóa quản lý thuế và quy hoạch cán bộ nữ đạt trên 25%.
  • Xác lập lộ trình thực thi đồng bộ từ năm 2021 đến năm 2025 nhằm nâng cao năng suất công vụ và hỗ trợ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn.

Công trình nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thị Yến Nhi là tài liệu tham khảo thực tiễn sâu sắc cho công tác quản trị nguồn nhân lực ngành thuế địa phương. Quý bạn đọc và các nhà quản lý hãy tham khảo ngay luận văn này để áp dụng hiệu quả các mô hình tạo động lực, nâng cao chất lượng thực thi công vụ tại cơ quan, đơn vị.