CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. TONG QUAN VE DONG LUC VA TAO DONG LUC LÀM VIỆC 1. Khái niệm về động lực, động lực làm việc và tạo động lực làm việc a. Nhu céiu: Theo giáo trình Hành vi tô chức của Bùi Anh Tuần, Phạm Thúy Hương.
(2009), “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh than ma làm cho một số hệ qua( tite là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp. Theo đó thì khi nhu cầu của cá nhân là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của mỗi người về vật chất, tỉnh thần cần được đáp ứng, thỏa mãn. Nếu nhu cầu không được thỏa mãn thì nó sẽ tạo ra sự căng thẳng và sự. căng thẳng này thường kích thích các động cơ bên trong các cá nhân.
Mức độ căng thẳng càng lớn càng cần phải có hoạt động để làm dịu căng thẳng. Vì vậy , khi nhân viên làm việc chăm chỉ trong một hoạt động nào đó có nghĩa là họ đang bị chỉ phối bởi một sự mong muốn đạt được mục tiêu nào đó mà họ cho là có giá trị. Động cơ thúc đây: “Theo giáo trình môn Quản trị học của Lê Thế Giới, Nguyễn Xuân Lãn, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Thị Loan (2011) thì “Động cơ ám chỉ cả những nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuôi một cách thức hành động đã xác định. Động cơ ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của người lao động, một phần công việc của nhà quản trị là định hướng và khơi dậy động cơ của người lao động nhằm hoàn thành mục tiêu của tô chức” [3, tr.201] Động cơ được hình thành bởi các nhu cầu và lợi ích của người lao động.
10 từ đó thúc đầy người lao động làm việc và cống hiến cho tổ chức. Động cơ thúc đây phụ thuộc vào sức mạnh của động cơ. Ở mỗi người khác nhau thì khả năng hành động của họ khác nhau, cả ý chí hành động hoặc sự thúc đẩy cũng khác nhau. Động cơ hướng tới mục đích, cái mục đích có thể là ý thức hoặc chỉ trong tiềm thức từ đó dẫn đến hành vi, chúng thức tỉnh và duy trì hành động, định hướng hành vi chung của cá nhân.
Thực chất các động cơ hoặc nhu cầu là những yếu tố chính của hành động. Động cơ và nhu cầu có thể thay thế nhau. Biểu hiện của một người có động cơ làm việc là họ luôn sẵn sảng nô lực, say mê nghiên cứu, cống hiến hết mình vì công việc nhằm đạt được mục tiêu mà họ đã đề ra và hoàn thành tốt mục tiêu của tô chức. © Động lực: Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Lê Nguyễn Đoan Khôi (2015): “ Động lực là các quá trình thể hiện cường độ, định hướng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu.
Ba thành tố chính trong định nghĩa đông lực là: Cường độ, định hướng và sự bền bỉ. Cường độ mô tả mức độ cố gắng của một người. Những nỗ lực hướng tới và phù hợp với mục tiêu của tổ chức là những nỗ lực cần phải có. Nỗ lực cẳn phải được xem xét trên phương, diện bền bi.
Yếu tố này đánh giá thời gian một người có thể duy trì nỗ lực, đảm nhận công việc cho đến khi đạt được mục tiêu”.42] Mitchell và các công sự (1997) cũng thống nhất với cách định nghĩa này và cho rằng động lực là quá trình cho thấy sức mạnh, sự kiên định và sự bền bỉ trong nỗ lực cá nhân nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu. Như vậy, có thể hiểu động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá, thúc day mọi hành đông nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tô chức. Động lực là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài của cá nhân khơi dậy sự tích cực của họ từ đó định hướng cho những hành động. " 4L Động lực làm việc: “Theo giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Huong (2009), *Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nổ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tô chức” [6, tr134] Pinder (1998) đã chỉ ra rõ hơn và cho rằng động lực làm việc là một tập hợp của các yếu tố bên ngoài và bên trong dẫn tới các hành vi liên quan đến việc thiết lập, định hướng hình thức, thời gian và cường độ của hành động. Định nghĩa này xác định ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong của một cá nhân đến các hành vi liên quan đến làm việc Nhu vay, từ các định nghĩa trên có thể hiểu động lực làm việc như sau: Động lực làm việc mang tính cá nhân, xuất phát từ bên trong mỗi con người được thúc đây bởi các yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người làm khơi day lòng nhiệt tinh và sự kiên trì theo đuổi một mục tiêu đã xác định để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tỗ chức. Động lực làm việc chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, chính vì vậy ở mỗi người trong mỗi giai đoạn cụ thể khác nhau, công việc khác nhau thì động lực làm việc của họ mỗi khác.
Do vậy động lực làm việc có thể thay đổi dựa vào các yếu tố khách quan trong công việc, tại thời điểm này một lao động có thẻ có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ. Động lực làm việc là nguồn gốc dẫn đến sự gia tăng về năng suất lao. 12 động của cá nhân từ đó dẫn đến hiệu quả của tô chức nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Tuy nhiên, không phải cứ có động lực làm việc là sẽ tăng năng suất lao động vì nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như.
trí tuệ, trình độ, tay nghề của người lao động, các phương tiện, công cụ và nguồn lực đề thực hiện công việc. Sự khác nhau cơ bản giữa động cơ và động lực làm việc chính là động cơ đi trả lời cho câu hỏi vì sao người lao động làm việc còn động lực làm việc trả lời cho câu hỏi vì sao người lao động làm việc cho tổ chức hiệu quả đến như vậy. Tạo động lực làm việc: “Theo giáo trình Hành vi tổ chức của Bài Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2009), “Tao động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có đông lực trong công việc. Tạo động lực làm việc cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý.
Một số người lao động có động lực làm việc, thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác”. [4, tr87] Do vậy, tạo động lực làm việc là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý ảnh hưởng tới người lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức. Động lực làm việc không tự nhiên xuất hiện mà là sự kết hợp đồng thời của các nguồn lực chủ quan thuộc về phía bản thân người lao động và nguồn lực khách quan thuộc về môi trường sống và làm việc của người lao động. Vai trò của tạo động lực làm việc Đối với cá nhân người lao động: Người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ say mê hơn với công việc và nghề nghiệp của mình, do đó họ sẽ làm 13 việc nhiệt tình hãng say hơn và có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của mình, từ đó phát triển nghề nghiệp của bản thân.
'Đối với tô chức: Động lực làm việc của nhân viên liên quan đến sự phát triển hay suy thoái của một tổ chức. Một tổ chức tạo được động lực làm việc cho nhân viên cảng nhiều thì khả năng làm việc của nhân viên ngày càng cao, tính sáng tạo và đổi mới trong công việc cảng hiệu quả từ đó năng lực cạnh tranh của họ càng cao. Đối với xã hội: Khi động lực làm việc của cá nhân ngày càng được cải thiện thì cả con người lẫn tô chức đều được phát triển nhìn chung nó tác động tích cực về mặt đạo đức, kinh tế, chính trị và xã hội. NỘI DUNG CỦA CÁC HỌC THUYẾT CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỌNG LỰC LÀM VIỆC “Trong lịch sử phát triển của khoa học có nhiều học giả đã nghiên cứu về động lực và tạo động lực làm việc.
Bởi vì cách tiếp cận khác nhau nên kết quả của quá trình nghiên cứu cũng khác nhau và nó bị chỉ phối bởi rất nhiều yếu tố. Mặc dù vậy nhưng các học thuyết cũng đã chỉ ra những mặt tích cực cần đáng được quan tâm xem xét. Sau đây là một số học thuyết tiêu biểu về tạo động lực. Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham F.
Maslow (1943) Thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow' cho rằng con người được thúc đây bởi nhiều nhu cầu khác nhau và những nhu cầu này được phân cấp theo 5 thứ bậc. Trong đó nhu cầu về sinh lý là nhu cầu cấp thấp nhất tiếp đến là nhu cầu về sự an toàn; quan hệ giao tiếp; được tôn trọng và cuối cùng là nhu cầu về sự hoàn thiện được phát triển và tự khẳng định mình. Các cấp bậc trên được sắp xếp theo trật tự xác định như mô hình I. Maslow, “A Theory of Human Motivation,” Psychological Review S0(1943), 370—396.
14 Sự thoả mãn ngoài công việc Cp bjenhu clu Sự thoả mãn trong công việc Hinh 1.1 Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow Nhu cầu sinh lý là nhu cầu đầu tiên cuả con người cần phải được đảm bảo trước tiên là những nhu cầu thuộc về cá nhân mỗi người lao động tiếp theo là nhu cầu về sự an toàn: an toàn về nơi trú dn, an ninh công việc, sức khỏe và môi trường an toàn.