Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát thuế xuất nhập. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng 6. Tổng quan tài liệu Thu ra đời và phát triển gắn với sự. h thành và phát triển của nhà nước và là đòi hỏi tắt yêu khách quan đối với sự tồn tại của bắt cứ nhà nước nào.
Nguồn thu từ thuế giúp đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của nhà nước, Vì vậy, thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc, cường chế, mang. tính pháp lý cao, là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước. Quản lý thuế là một trong những chức năng quan trọng trong công tác quản lý của nhà nước. Quân lý thuế dựa trên hệ thống chính sách thuế, dâm bảo cho nhà nước có một nguồn thu ôn định, đáp ứng yêu cầu điều tiết vĩ mô.
nên kinh tế, tạo môi trường bình đẳng, thúc đẩy sự cạnh tranh, phát triển nền. kinh tế thị trường. Tuy nhiên để công tác quản lý thuế thực sự có hiệu quả đòi hỏi phải thường xuyên tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát thuế. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát thuế giúp cho hoạt động quản lý của nhà nước đảm bảo được mục tiêu ra và có những điều chỉnh kịp thời trong việc ban hành chính sách, chế độ về thuế, nhất là đối với sắc thuế cơ bản trong hoạt động.
XNK hàng hoá, đó là thuế XNK. Trong quá trình thực hiện Luật thuế XNK, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi ngành HỌ dang thay đổi toàn diện phương thức quản lý: giao cho ĐTNT tự khai, tự tính, tự nộp thuế, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, đã xây ra không ít những hành vi gian lận trong hoạt động XNK hàng hoá, ảnh hưởng lớn đến kết quả thu nộp ngân sách của ngành HQ. Xét đến cùng, mọi sai phạm của ĐTNT xảy ra trong hoạt XNK hàng hoá đều nhằm đến mục. đích cuối cùng là làm sao để số thuế phải nộp cho NSNN là ít nhất có thể.
Vì vậy, không ít tổ chức cá nhân đã lợi dụng sự thông thoáng trong hoạt động quản lý của cơ quan HQ để buôn lậu, trốn thuế. Trước tình hình đó, đòi hỏi ngành Hải quan nói chung và Cục HQ TP Đà Nẵng nói riêng cẳn phải tăng cường và hoàn thiện hơn nữa hoạt động kiểm soát, nhất là kiểm soát thuế XNK để vừa có thể tạo thuận lợi cho DN XNK hàng hoá, vừa đảm bảo thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời số thu thuế XNK vào NSNN. Muốn vậy, cần phải có sự đồng bộ, hoàn thiện từ bộ máy tổ chức, hệ thống văn bản pháp luật, cơ sở vật chất kỹ thuật đến đội ngũ công chức HQ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn còn một số bắt cập, sơ hở, chồng chéo của.
Luật Quản lý thuế, Luật Thuế XNK,. ; trình độ năng lực của cán bộ công chức HQ vẫn chưa đồng đều, tính chuyên môn hoá chưa cao,. Vì vậy, phải có một nghiên cứu toàn diện hơn về thực trạng hoạt động kiểm soát thuế. XNK tại một đơn vị HQ để tìm ra những bắt cập, khiếm khuyết của chế độ.
chính sách cũng như thực trạng về năng lực trình độ của cán bộ công chức, cơ sở vật chất kỹ thuật,. qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa. hoạt động này trong thời kỳ mới. Là công chức công tác lâu năm trên lĩnh vực thuế XNK tại Cục HQ TP Đà Nẵng, tôi đã chọn đơn vị công tác để chứng.
minh cho cơ sở lý luận của mình. Trước khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tìm hiểu đẻ tải liên quan đến. đề tài tác giả nghiên cứu như sau: “Tăng cường công tác kiểm soát nguồn thu. thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bản TP Đà Nẵng” đã được nghiên cứu trước đây bởi tác giả Phan Xuân Quang năm 2008.
ĐỀ tài nay hệ thống hoá được cơ sở lý luận cơ bản của kiểm soát quản lý, kiểm soát quy trình quản lý thué GTGT, lam tiễn đề cho việc đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp khắc phục những tồn tại về công tác kiếm soát thuế GTGT từ các DN trên địa bàn TP Đà Nẵng. Bên cạnh đó, để tài đã phản ánh được thực trạng công tác kiểm soát thuế GTGT tại Cục thuế TP Đà Nẵng, từ đó chi ra những mặt hạn chế cần hoàn thiện vẻ công tác kiểm soát thuế GTGT. tại đơn vi 'Kế thừa những lý luận chung về kiể soát quản lý, quy trình kiếm soát thuế, tác giả đã đi vào khảo sát thực trạng kiểm soát thuế XNK tại Cục HQ TP. \¡: “Tăng cường công tác kiểm soát thuế XNK tại Cục HQ TP Đà Nẵng”.
Đề tài đã chỉ ra và đi sâu nghiên cứu tìm hiểu. công tác kiểm soát thuế XNK, khảo sát ý kiến một số cán bộ công chức HQ. công tác tại các khâu kiểm soát thuế, đi sâu vào nghiên cứu các kỹ năng, cách thức kiểm soát, các nghiệp vụ kiểm soát cụ thể tại các khâu nghiệp vụ và đề. xuất một số giải pháp để tăng cường hơn nữa hoạt động kiểm soát thuế XNK.
tại Cục HQ TP Da Nẵng. Trên cơ sở lý luận chung về hoạt động kiểm soát kết hợp với các văn bản quy định về hoạt động quản lý nhà nước về HỌ trên lĩnh vực thuế XNK và thực tiễn của hoạt động kiểm soát thuế XNK tại Cục HQ TP Đà nẵng, tác giả đã đưa ra kết quả nghiên cứu của mình. CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUẬN CƠ BẢN VE KIEM SOAT THUE XUAT NHAP KHAU, 1. NHUNG VAN ĐÈ CƠ BẢN VỀ THUÊ XUẤT NHAP KHAU, 1.
Khái niệm về thuế Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau, lần lượt từ công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong. kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoại trừ hình thái công xã nguyên thuỷ chưa xuất hiện giai “on đặc trưng của các hình tÌ xã hội khác là có giai cấp. Giai cấp xuất hiện gắn liền với nảy sinh mâu thuẫn quyền lợi xã hội giữa các giai cấp trong xã hội và các mâu thuẫn này chỉ có thể.
được giải quyết bằng đấu tranh giai cấp. Từ đó, nhà nước - đại diện quyền lợi của một giai cắp nhất định - được ra đời. Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chỉ tí , nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên tài chính, đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực bude dan phải đóng góp. Quyên góp thường được vận động dựa vào một sự kiện nào đó, chủ yếu kêu gọi lòng yêu nước, lòng nhân đạo, lồng hảo tâm của người (ham gia.
Kết quả mang lại từ phương thức này thường không lớn và cũng không tiến hành thường xuyên được. Vay của dân dưới hình thức nhà nước bán công trái, trái phiếu,. là những hoạt động tải chính cần thiết để tăng nguồn lực của nhà nước nhưng thường chỉ dùng trong. phát triển kinh tế nhằm mang lại hiệu quả để đảm bảo nhà nước có điều kiện trả cả vốn lẫn lãi cho dân chúng.
Không một nhà nước nào dựa vào vay của dân để đơn thuần phục vụ chỉ tiêu bộ máy cai trị của mình. nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu thường xuyên, nhà nước sử dụng, quyền lực chính trị để ban hành pháp luật, ấn định và bắt buộc các thể nhân, pháp nhân phải đóng góp cho nhà nước một phần của cải mà họ làm ra để hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. 'Ban đầu các thể nhân và pháp nhân nộp thuế cho nhà nước bằng hiện vật, Hình thức thu nộp thuế này dần dần bộc lộ những nhược điểm trong quá trình quản lý thu nộp như vẻ số sách, kho tàng, bảo quản, chỉ tiêu, Cùng với sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá thì đồng tiền ra đời, người ta nhận thấy rằng nếu dùng tiền để nộp thuế rồi chỉ tiêu thì tiện lợi vô cùng. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã tạo điều kiện thuận.
lợi cho sự phát triển của thuế. Mặt khác, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được. thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đây sự phát triển của kinh tế thị trường. 'Như vậy nhân tổ thứ hai sau nhà nước làm tiền đề cho sự ra đời của đời của thuế chính là sự ra đời và phát triển của quan hệ hàng hoá - đinh cao là sự xuất hiện của tiền tệ.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu tiền”.Ăng ghen đã chỉ rõ “Đặc.
trưng thứ bai của nhà nước là sự thiết lập một trật tự công cộng. Để duy trì quyền lực công cộng đó cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế má”.LLênin cho rằng “Thuế là cái nhà nước thu của dân mà. không bù lại” Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thị là khoản tiền hay hiện vật mả người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp, buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định”. Như vậy, tuỳ theo góc độ đẻ cập, quan niệm về thuế còn khác nhau.
Điểm chung của các quan niệm này là hoặc mới chỉ nêu được những yếu tố cơ bản của thuế hoặc mới chỉ coi thuế là một khoản đóng góp nghĩa vụ bắt buộc. Dưới một góc nhìn mới về thuế, chúng ta thấy rằng, việc các tổ chức, cá nhân nộp thuế cho nhà nước không phải chỉ để thực hiện nghĩa vụ được. quy định trong Hiển pháp, nộp thuế còn là quyền lợi của mọi người dân trong. Vì thông qua việc nộp thuế, các tô chức, cá nhân thể hiện quyền được.
đóng góp theo nghĩa vụ cho nhà nước, quyền được tiếp tục hoạt động kinh doanh và hưởng những dịch vụ công cộng mà xã hội đem lại. Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các nhận thức trên vẻ thuế, có thể coi thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc không được hoản trả trực P, được nhà nước quy định thành luật để mọi người dân và các tổ chức kinh tế. thực hiện nộp vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu và thực. hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước.
Cũng có thể hiểu, thuế. là một hình thức động viên, phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và người dân tạo ra dé hình thành.