Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động. Chương 2: Thực trạng việc tạo động lực làm việc cho người lao động tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Đà Nẵng. Chương 3: Một số đề xuất nhằm tạo động lực làm việc cho người lao động tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Đà Nẵng. Giới hạn nghiên cứu của đề tài Tạo động lực làm việc cho người lao động là một vấn đề rất rộng, vì vậy có rất nhiều cách tiếp cận nghiên cứu cho đề tài này.
Nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên tác giả đưa ra giới hạn cho đề tài như sau: ~ Lựa chọn một số hoạt động quản trị nhân lực có tác động lớn đến động lực làm việc của người lao động mà Công ty còn hạn chế. ~ Trong các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao. động thì tập trung vào nhóm yếu tố thuộc về Công ty. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC LAM VIEC CHO NGUOI LAO DONG 1.
MỘT SÓ KHÁI NIỆM 1. Nhu cầu của người lao động Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau [22]. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.
Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chỉ phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chỉ phối nhất định, nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu câu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận, những nhu cầu bậc thấp nhất được thỏa mãn thì phát sinh những nhu cầu cao hơn và cần được thỏa mãn.
Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mắt cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cau chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người.
Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Dong cơ thúc đẩy người lao động Động cơ lao động là một mục đích chủ quan trong hoạt động của người lao động thúc đây con người hoạt động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu nào đó đã được xác định của người lao động. Khái niệm động cơ lao động là một khái niệm trừu tượng và rất khó xác định một cách cụ thể vì thường bị che dấu bởi bản chất thật và nhiều lý do khác nhau như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân, nhân sinh quan của mỗi người. Động cơ lao động luôn biến đổi theo thời gian và tại mỗi thời điểm thì người lao động sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau.
Trừ những nhu cầu sinh lý thì nói chung nhu cầu phụ thuộc phần lớn vào môi trường hoạt động của con người. Vi vay, là nhà quản lý phải biết chính xác các động cơ của người lao động để biết cách thỏa mãn những động cơ đó đối với từng người lao động cụ thể sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng và đáp ứng được mục đích của tổ chức. Động lực thúc đẩy người lao động Để tổ chức đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc cao khi có những người lao động làm việc tích cực, đam mê và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản lý sử dụng để tạo động lực cho nhân viên.
Vậy động lực lao động là gì Có quan niệm cho rằng: “động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”[10, tr. Quan niệm khác lại cho rằng: động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sằng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [13, tr. Qua hai khái niệm trên về động lực lao động có thể đưa ra những nhận xét khái niệm về động lực lao động bao gồm những nội dung sau.
- Động lực lao động là những nhân tố xuất phát từ bên trong người lao. đông “động lực lao động là những nhân tổ bên trong kích thích con người" “động lực lao động là sự khát khao tự nguyện. 91] Nói như vậy không có nghĩa là những nhân tố bên ngoài không có ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động. Động lực lao động cũng không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân, không có ai sinh ra đã có sẵn động lực lao động hay không có động lực lao động, vì vậy hãy chủ động tìm biện pháp tạo động lực cho họ.
Động lực cá nhân Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khí ) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hoá của tổ chức, phong cách của người lãnh đạo, cấu trúc của tô chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng góp vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn: nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị. Các biểu hiện của động lực lao động, Từ các khái niệm về động lực lao động ta có thể rút ra những.
hiện của người lao động khi có động lực lao động và biểu hiện khi không có động lực lao động. Biểu hiện của người lao động khi có động lực lao động - Hải lòng trong công việc, thoả mãn, vui vẻ, thoải mái làm việc, yêu công việc, yêu Công ty, quý mén đồng nghiệp và người lãnh đạo của mình. ~ Thời gian tác nghiệp cao, thời gian lãng phí trong lúc làm việc là rat it, đến nơi làm việc đúng giờ và nghỉ theo ca đúng quy định, sẵn sàng làm thêm nếu Công ty có nhu cầu. ~ Năng suất và chất lượng đạt tiêu chuẩn và ngày càng được nâng cao.
~ Có nhiều sáng kiến hữu ích, tạo ra năng suất lao động cao hơn, giảm thiểu mệt mỏi. - Không ngừng có những sáng kiến để cải tiến, nâng cao hiệu quả làm việc trong Công ty. Biểu hiện của người lao động khi không có động lực làm việc - Không hài lòng với công việc hiện tại, chán nản, uễ oải trong làm việc. Thường xuyên bắt bình với Công ty, với đồng nghiệp, với lãnh đạo.
- Thời gian tác nghiệp thái lăng phí thời gian trong lúc làm việc cao, thường xuyên đi làm muộn về sớm, tỏ thái độ miễn cưỡng, gượng ép khi phải làm việc thêm giờ, thêm ca. - Năng suất và chất lượng lao động giảm sút - Làm việc thụ động, trông chờ vào người khác. Tạo động lực lao động Có quan điểm cho rằng “⁄4o động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động lên người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc ” [13, tr. Như vậy, tạo động lực lao động là công việc của các nhà quản lý, công cụ để tạo động lực lao động là các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý còn kết quả của tạo động lực lao động là động lực của người lao động.
Nếu động lực lao động là những nhân tố xuất phát từ bên trong người lao động thì tạo động lực lại là một công việc của nhà quản lý làm sao cho nhân viên của mình có động lực trong thực hiện công việc. Động lực lao động có thể coi là đầu ra của quá trình tạo động lực. Để tạo được động lực nhà quản lý phải bỏ ra những khoản chỉ phí dưới các dạng như: chỉ phí biểu hiện dưới dạng tiền lương của người lao động và các nhân tố vô hình khác như tính hấp dẫn của công việc, văn hoá tổ chức môi trường làm việc. nhà quản lý phải bỏ ra tiền lương đủ hấp dẫn để chỉ trả cho người lao động, bỏ thời gian tiền bạc để đầu tư thiết kế công việc hấp dẫn, có tính thách thức, công việc ôn định và độ rủi ro trong công việc là thấp, Công ty phải chú ý xây dựng môi trường làm việc thật tốt, văn hoá Công ty thật phù hợp, Như vậy, có thể thấy tạo động lực là một quá trình liên tục, tốn nhiều chỉ phí khác nhau và khá phức tạp.
Bởi vì không phải bỏ tiền ra là nhà quản lý có thể có được động lực làm việc của người lao động, việc xây dựng thiết kế công việc, môi trường làm việc và văn hoá Công ty không phải là dễ thực hiện, không phải bao giờ cũng kích thích được người lao động làm việc theo yêu cầu của nhà quản lý. Chính điều đó làm nên tính nghệ thuật, độc đáo và đa dạng của tạo động lực lao động nói chung và quản trị nhân lực nói riêng. Các lý thuyết về tạo động lực a. Hoc thuyét nhu cau cia Abraham Maslow Theo Abraham Maslow thì nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý — nhu cầu vật chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội — nhu cầu hội nhập, nhu cầu được được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện.
Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bắc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện.