CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE QUAN TRI RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CUA NGAN HANG THUONG MAI 11 TIN DUNG VA RUI RO TIN DUNG CUA CAC NG. THƯƠNG MẠI 1.11 Tín dụng Theo Mae: “ in dung là sự chuyển nhượng lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu lại được lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”. Tín dụng là quan hệ kinh tế trong đó cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một giá trị bằng tiền hay hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những điều kiện rằng buộc nhất định về thời hạn hoàn trả (cả gốc và lãi), lãi suất, cách thức cho vay mượn và thu hồi. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các tô chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả, trong đó ngân hàng là người cho vay.
Theo tác giả TS. Nguyễn Minh Kiều, giảng viên Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng, vốn từ Ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chỉ phí nhất định”. Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: + Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho.
người sử dụng. + Sự chuyên nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn. i + Sự chuyển nhượng này có kèm theo chỉ phí. Phân loại tín dụng ngân hàng Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng.
* Phân loại theo thời hạn của tín dụng + Tín dụng ngắn hạn: từ 1 năm trở xuống. + Tín dụng trung hạn: từ I năm đến 5 năm + Tin dụng dài hạn: trên 5 năm * Phân loại theo hình thức được chia thành cho vay, chiết khấu, bảo lãnh cho thuê tài chính. — Cho vay: “Là hình thức cắp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” — Chiết khấu: “Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ. hưởng trước khi đến hạn thanh toán”.
— Bảo lãnh ngân hàng: “Là cam kết bằng văn bản của tô chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay”. — Bao thanh toán: “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ”. 12 ~ Cho thuê tai chính: *Lã hoạt động tin dung trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyền và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê.
thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyền và các động sản. khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê”. * Phân loại theo tài sản đảm bảo: không có đảm bảo; có đảm bảo bằng tài sản thế chấp cầm cố. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nên kỉnh t thị trường ~ Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là kênh cung cấp vốn cho toàn bộ nền kinh tế.
Mọi thành phẩn kinh tế đều được ngân hàng tài trợ vốn khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của ngân hàng. Thông qua việc tài trợ vốn cho nền kinh tế, tín dụng ngân hàng thúc đây sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. ~ Tin dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình vận hành, hoạt động của đất nước như: sản xuất, lưu thông hàng hoá, ngay cả những hoạt động dịch vụ, phi sản xuất cũng cần có sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng. Với các ngành sản xuất, chế biến, khai thác.
ngân hàng cung cấp vốn đề dự trữ nguyên, nhiên vật liệu, thành phẩm, bù đắp các chỉ phí sản xuất. sản xuất ôn định. Hơn nữa, tín dụng ngân hàng còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất, đầu tư máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, gia tăng. hàm lượng công nghệ trong quá trình sản xuất.
Với các ngành thuộc lĩnh vực lưu thông, tín dụng ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp vốn lưu động để hỗ trợ trong quá trình kinh doanh, từ dự trữ hàng tồn kho, đến phân phối sản phẩm. đến tay người tiêu dùng, Như vậy, tài trợ vốn lưu động là một nguồn rất quan trọng để doanh nghiệp có thể thực hiện được phương án kinh doanh của mình. ~ Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ tải trợ cho các dự án tạo công 13 ăn việc làm, tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và các chương trình, dự án mang tính xã hội khác. Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người,giải quyết việc làm không chỉ dựa vào quỹ ngân sách nhà nước hoặc trông chờ vào các khoản vay nước ngoài.
Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò trong việc đầu tư cho các dự án có ý nghĩa kinh tế xã hội để giải quyết những vấn đề như vậy ~ Thứ ba, tín dụng ngân hàng đây mạnh quá trình mở rộng tập trung vốn sản xuất mở rộng, phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế giữa các vùng. miền trong nước và các nước trên thế giới. Các doanh nghiệp uy tín, có phương án kinh doanh hiệu quả được ngân hàng tập trung đầu tu để mở rộng. quy mô sản xuất phân phối ra thị trường tiêu thụ.
Tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đủ điều kiện và nguồn lực để hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nước ngoài, đưa niền kinh tế nước ta hội nhập với nền kinh tế thể giới ~ Thứ tư, thông qua hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng, nhà nước có thể kiêm soát và điều hành nền kinh tế từ đó đề ra các chính sách điều hành, quản lý nền kinh tế phù hợp. thông qua công cụ tin dụng và lãi suất nhà nước có thể nhanh chóng điều chinh chính sách tài khoá, điều chỉnh nền kinh thế leo đúng định hướng hay cần sự thay đổi cho phù hợp với tình hình. diễn biến trong nước và thế giới. Khái niệm rải ro “Rui ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chỉ phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định”.
Theo Peter Rose, rủi ro đối với một ngân hàng có nghĩa là “Mức độ 14 không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện”. Khái niệm rủi ro tin dung Trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tín dụng ngân hàng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất những cũng ân chứa nhiều rủi ro nhất. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: “Rui ro tín dụng là ngôn từ thường được sử dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính. Đó là khả năng không chỉ trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán”.
“Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đẩy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại” Theo dinh nghĩa của Ủy ban Basel: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho. vay là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”; cũng theo Uỷ ban này, một định nghĩa khác có thể nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng”, trong đó sự vỡ nợ. được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”.Rose, “một số tải sản của ngân hàng (đặc biệt là các khoản cho vay) giảm giá trị hay không thê thu hồi là biểu hiện của rủi ro tín dụng”. Rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng.
Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng. cấp cho họ. Hay rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo. 15 hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng.
khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ. “Rui ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Các nội dung cơ bản của rủi ro tin dụng như sau: ~ Rủi ro tín dụng xảy ra khi người vay không thực hiện đúng theo thoả thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng. ~ Rủi ro tín dung sẽ thất thoát 1 phần vốn của ngân hàng, gia tăng phần trích dự phòng rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của ngân hàng, nếu nhiều khoản tổn that quá lớn, ngân hàng có thể không đủ vốn để bù đắp và dẫn tới phá sản.