Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị quan hệ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chỉ nhánh Dung Quat. Chương 3: Hoàn thiện hoạt động quản trị quan hệ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chỉ nhánh Dung Quất. 11 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM- CHI NHÁNH DUNG QUÁT 1.
KHACH HANG VA QUAN HE KHACH HANG 1. Khách hàng a. Khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, với môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì khách hàng là điều kiện tiên quyết đẻ mỗi doanh nghiệp có thẻ tồn tại và phát triển. “Không có khách hàng sẽ không có bắt cứ công ty nào tồn tại” — đó là nhận định của nhà kinh tế nổi tiếng Erwin Frand.
Bắt kỳ doanh nghiệp hoặc tổ chức nào cũng cần có khách hàng. Khách hàng là người mà chúng ta đã, đang hoặc sẽ cùng họ trao đổi giá trị. Họ có thể trao cho chúng ta một thứ gì đó (thông thường, nhưng không phải luôn luôn là tiền) dé đổi lại một vài thứ khác thường là dịch vụ hoặc hàng hóa. Theo tic gia Thu Phương: “Khách hàng có thể là bắt kỳ cá nhân hay tổ chức nào tham gia vào kênh phân phối hay quyết định (không phải đối thủ cạnh tranh) mà hành động của họ có thể tác động đến việc mua sản phẩm hay dịch vụ của công ty” - trang 96, Khách hàng - doanh nghiệp cùng hợp tác phát triển.
NXB Thống kê, Hà Nội, 2006. Tác giả Nguyễn Xuân Quang thì cho rằng: “Khách hàng là tập hợp những người có nhu cầu hiện có và tiềm năng về sản phẩm của một công ty và họ có khả 5 năng thanh toán cho nhu cầu đó” — trang 48, Giáo trình marketing thương mại, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, 2005. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về khách hàng nhưng nhìn chung khách hàng là tập hợp những cá nhân, nhóm người, hay tổ chức có nhu 12 cầu và có khả năng chỉ trả cho việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu khách hàng không chỉ ở chỗ tiêu thụ được sản phẩm của doanh nghiệp mà còn đảm bảo khả năng “bán được hàng nhưng đồng thời giữ được khách hàng tồn tại và lôi kéo được khách hàng tiềm năng”.
Phan loại khách hàng: Dựa vào hành vi mua của khách hàng để phân loại thì khách hàng được phân thành hai loại đó là khách hàng tổ chức và khách hàng cá nhân. Khách hàng tổ chức: Khách hàng tô chức thường có những quyết định mua có tính chất phức tạp hơn. Những vụ mua sắm thường liên quan đến lượng tiền khá lớn, các cân nhắc phức tạp về mặt kinh tế kỹ thuật và các ảnh hưởng qua lại giữa nhiều người thuộc nhiều cấp độ trong tổ chức. Việc mua của tô chức mang tính chất phức tạp, có thể mắt nhiều thời gian hơn để đưa ra quyết định.
Tiến trình mua của tổ chức có khuynh hướng đúng quy cách hơn so với tiến trình mua của người tiêu thụ. Các cuộc mua của tổ chức thường, yêu cầu những chỉ tiết kỹ thuật của sản phẩm, thảo luận các yêu cầu về mua hàng, các nghiên cứu kỹ lưỡng về nhà cung cấp và sự phê chuẩn chính thức. Khách hàng cá nhân: Quyết định mua của khách hàng cá nhân thường it phức tạp hơn khách hàng tổ chức. Việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý.
Quan hệ khách hàng, Quan hệ khách hàng có thể hiểu là một quá trình tương tác hai chiều. giữa doanh nghiệp và khách hàng trong đó hai bên cùng trao đổi các nguồn lực lẫn nhau dé cùng đạt được mục tiêu của mình. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng của nó thường liên quan đến các quá trình giao tiếp và phản hồi đa hướng không ngừng. Doanh nghiệp, bằng nhiều hoạt động marketing đưa sản phẩm dịch vụ của mình tiếp cận được với khách hàng 13 tiềm năng.
Khách hàng căn cứ vào nhiều yếu tố để quyết định có nên tiến hành giao dịch với doanh nghiệp hay không. Khi giao dịch ban đầu được thực hiện thì các mối quan hệ cũng được thiết lập. Các mối quan hệ này có thé dai han hay ngắn hạn, liên tục hay ngất quãng, một lần hay nhiều lần. Những khách hàng mua nhiều lần sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn và họ có kỳ vọng là doanh nghiệp sẽ đánh giá đúng các mối quan hệ này.
Khi đề cập đến quan hệ khách hàng trong kinh doanh hiện nay chúng ta thường chú ý tới tạo ra giá trị cho khách hàng. Mục đích không phải là tối đa hóa lợi ích của mỗi hoạt động đơn lẻ mà là xây dựng một môi quan hệ tổng thể bền vững với khách hàng. Sự phát triển của quan hệ khách hàng yêu cầu một sự hiểu biết đầy đủ về quá trình mà khách hàng tự tạo ra giá trị cho bản thân. QUAN TRI QUAN HỆ KHACH HANG 1.
Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng. Khái niệm CRM: Quản trị quan hệ khách hàng (CRM) là thuật ngữ xuất hiện từ khá lâu trên thế giới, nhưng cho đến nay, có nhiều khái niệm liên quan đến CRM được đưa ra liên quan đến nhiều cách tiếp cận khác nhau và chưa có một khái niệm nào về CRM được chấp nhận một cách tuyệt đối. Theo Kitsin Anderson, Carol Kerr (2002): “CRM là bao gồm toàn bộ các phương pháp tạo lập duy trì và mở rộng mối quan hệ với khách hàng”.Theo đó, CRM có thể được hiểu như là toàn bộ các hoạt động có liên quan đến khách hàng, chứ không chỉ đơn thuần là các hoạt động bán hàng, chăm sóc khách hàng hay marketing trong doanh nghiệp. Phát triển từ định nghĩa này, Bùi Quang Tín (2016) cho rằng: *CRM là một quá trình quản trị, bao gồm các hoạt động hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra quá trình xây dựng, duy trì mối quan hệ doanh nghiệp với khách hàng”.
Bên cạnh đó, CRM còn là toàn bộ quá trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin về khách 14 hàng, sản phẩm, hiệu quả của công tác tiếp thị và khả năng của ngân hàng đối với các xu hướng khác nhau của thị trường nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh doanh.A (2009):“CRM là chiến lược kinh doanh cốt lõi. Nó tích hợp tắt cả các quy trình và chức năng trong nội bộ với hệ thống bên ngoài để tạo ra và chuyển giao giá trị đến các khách hàng mục tiêu nhằm mang lại lợi nhuận cho công ty. Nó dựa vào dữ liệu có chất lượng cao liên quan đến khách hàng và được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin”. Theo Philip Kotler (2009): “CRM sử dụng công nghệ thông tin đề thu thập dữ liệu, sau đó dữ liệu được sử dụng để phát triển nhằm tao ra su giao tiếp có tính cá nhân với khách hàng.
Trong dài hạn, dữ liệu được phân tích và điều chỉnh liên tục nhằm gia tăng giá trị cho khách hàng lâu dài với doanh nghiệp”. Theo Vũ Ngọc Xuân (2013): “CRM là chiến lược thu hút và duy trì phát triển khách hàng bằng cách tập trung nguồn lực của doanh nghiệp vào. việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hang. CRM là một phương.
pháp giúp các doanh nghiệp tiếp cận và giao tiếp với khách hàng một cách có hệ thống và hiệu quả, quản lý các thông tin của khách hàng như thông tin về tài khoản, nhụ lên lạc và các vấn đề khác nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn. Các mục tiêu tổng thẻ là tìm kiếm, thu hút, giành niềm tin khách hang mới, duy trì những đối tác đã có, lôi kéo khách hàng cũ trở lại, giảm chỉ phí tiếp thị và mở rộng dịch vụ khách hàng”. Nhìn chung, mặc dù có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về CRM, nhưng có thể nói mục tiêu chính của CRM vẫn là thu hút và giữ được khách hàng bằng cách tăng cường mức độ thỏa mãn của họ. Vai trò của quản trị quan hệ khách hàng, “Quản trị quan hệ khách hàng có vai trò quan trọng trong lĩnh vực dịch 15 vụ nói chung và dịch vụ tài chính ngân hàng nói riêng.
CRM có thể được xem như là phương án hữu ích trong việc nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu và thói quen khách hàng, qua đó phát triển mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp. CRM tạo ra lợi ích to lớn cho doanh nghiệp khi tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau, nhằm phát triển và củng. cố mối quan hệ giữa khách hàng hiện tại và doanh nghiệp, cũng như tạo dựng nên các khách hàng mới. CRM có vai trò sau: Thứ nhất, CRM giúp phân loại khách hàng: Hiện tại, các ngân hàng đã chuyển hướng kinh doanh từ dịch vụ sang định hướng khách hàng một cách có chọn lọc.
Vì vậy, chiến lược phân loại khách hàng hiệu qua nhat ma CRM hỗ trợ là dựa trên giá trị kinh doanh, hay đo lường khả năng sinh lợi của khách hàng. CRM giúp doanh nghiệp phân chia khách hàng thành các nhóm khác nhau. Từ đó có thể hoạch định các chiến lược marketing phù hợp với từng loại đối tượng khách hàng. Thứ hai, CRM hỗ trợ bán chéo sản phẩm: Nhờ khả năng phân tích và mô hình dự báo hành vi khách hàng, CRM đề xuất chiến lược bán chéo bằng.
cách lọc ra danh sách những nhóm khách hàng tiềm năng có khả năng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ liên quan và khuyến nghị áp dụng các chiến lược marketing phù hợp. Thứ ba, CRM giúp cá biệt hóa dịch vụ khách hàng: Dựa trên các bên thông tin về lịch sử giao dịch, đặc điểm, thói quen và hành vi của khách hàng, CRM hỗ trợ doanh nghiệp có thể iều chỉnh các phương thức phục vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của từng khách hàng và tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Thứ tư, tăng cường lòng trung thành của khách hàng: CRM chú trọng. đến phát triển mi quan hệ gắn kết giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên sự am hiểu khách hàng tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh và thỏa mãn nhu 16 cầu của họ.
Điều này khiến cho khách hàng cảm thấy mình được trân trọng hơn và do đó góp phần củng cố lòng trung thành của họ đối với ngân hàng. Đây có lẽ là một lợi ích lớn nhất mà CRM mang lại cho ngân hàng.