CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE PHAN PHOI VA QUAN TRI KENH PHAN PHÓI 1.1, PHAN PHOI VÀ KENH PHAN PHOL 11. Kh i¢m về phân phối và kênh phân phối a. Khai niệm phân phối Một số khái niệm cơ bản về phân phối - Theo Philip Kotler (Quan tri Marketing, NXB Thống Kệ) thì ‘Phan phối là những quyết định đưa hàng hóa vào kênh phân phối với một hệ thống tổ chức, công nghệ điều hành, cân đối hàng hóa để tiếp cận va khai thác hợp lý nhất nhu cầu của thị trường, để đưa hàng hóa từ nhà sản xuất đến khách hàng cuối cùng nhanh nhất và nhằm đạt lợi nhuận tối đa” ~ Theo GS.TS Nguyễn Bách Khoa và TS Cao Tuấn Khanh (Marketing thương mại, 201 1) thì: “Phân phối trong Marketing là một quá trình chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, thể hiện qua nhiều phương thức và hoạt động khác nhau” Phân phối có thể coi là cầu nối giữa cung và cầu, là tài sản của doanh nghiệp nhằm đảm bảo việc cung cấp sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất, ôn định nhất và hiệu quả nhất. b, Khái niệm kênh phân phối - Theo PGS.TS Lê Thế Giới và TS Nguyễn Xuân Lăn (Quản trị marketing, 2012) thì “Kênh phân phói là một hệ thống gồm những tổ chức, cá nhân có quan hệ qua lại với nhau, tham gia vào các hoạt động mua bán và vào quá trình chuyển quyền sở hữu đối với sản phẩm hữu hình hay quyền sử dụng.
đối với các dịch vụ từ nhà sản xuất tới người sử dụng cuối cùng”. ~ Theo Philip Kotler (Quản trị Marketing, NXB Thống Kê) thì "kênh. phân phối l tập hợp các cá nhân hay công ty tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu với một hàng hóa cụ thể hay một địch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.TS Nguyễn Bách Khoa và TS Cao Tuấn Khanh (Marketing. thương mại, 2011) thì: * Kênh phân phối của công ty thương mại là một tập cấu trúc lựa chọn có chủ đích mục tiêu giữa công ty thương mại (với tư cách là một trung gian thương mại hoàn chỉnh) với các nhà sản xuất, các trung gian marketing phân phối khác và với người tiêu dùng cuối cùng để tổ chức phân phối và vận động hàng hóa hợp lý nhất cho tập khách hàng tiềm năng trọng điểm trực tiếp và cuối cùng của công ty.
Từ những quan điểm trên có thể nhận thấy một cách tổng quát rằng kênh phân phối có 4 đặc trưng sau: ~ Kênh phân phối là tổ chức quan hệ. ~ Kênh phân phối là tổ chức quan hệ bên ngoài: Kênh phân phối chỉ tồn tại bên ngoài doanh nghiệp, việc tổ chức kênh phân phối liên quan đến việc quản lý giữa các tổ chức hơn là nội bộ doanh nghiệp. ~ Kênh phân phối là tổ chức quan hệ bên ngoài để quản lý các hoạt động. Các hoạt động này bao gồm định hướng phát triển kênh ban đầu đến quản lý.
hoạt động hàng ngày của kênh ~ Kênh phân phối là tổ chức quan hệ bên ngoài để quản lý các hoạt động, nhằm đạt các mục tiêu phân phối của nó. Chức năng của kênh phân phối ~_ Thứ nhất, chức năng thông tin: Kênh phân phối có chức năng thu thập. thông tin cần thiết để hoạch định marketing và tạo sự thuận lợi cho sự trao đôi sản phẩm và dịch vụ. Trong quá trình hoạt động sẽ thông tin về các số liệu quan trọng như tổng số cung, cầu, cơ cấu của cung cầu, quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hóa, yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, đến chất lượng hàng.
Tất cả những điều đó sẽ giúp cho nhà sản xuất đánh giá xem kênh phân 10 phối do công ty thiết kế đạt được hiệu quả hay không từ đó có những quyết định thay đổi sao cho hợp lý. Ngoài ra từ những nguồn thông tin trên có thẻ đưa ra được những đánh giá khách quan dé có chính sách khen thưởng xử phạt kịp thời đối với các thành viên trong kênh phân phối. ~_ Thứ 2, chức năng cỗ động: là chức năng triển khai và phổ biến những. thông tin có sức thuyết phục về sản phẩm nhằm thu hút khách hàng.
Việc này các thành viên của kênh phân phối có thể giúp sức rất nhiều. Đối với các trung gian ở từng khu vực địa lý, do họ thành lập và hoạt động ở khu vực đó trong một thời gian khá lâu, nên họ có thể hiểu biết, nắm bắt được nhu cầu, thói quen của người tiêu dùng như thế nào. Chính các trung gian là người trực tiếp giúp nhà sản xuất phô biến những thông tin có sức hút đến người tiêu dùng trong khu vực tạo nên sự kích thích mua sắm của họ. Đó là lý do tại sao trong môi trường cạnh tranh ngày nay cần phải có các thành viên trung gian trong kênh phân phối vì họ là một trong những yếu tổ quan trọng giúp tăng độ bao phủ thị trường và có thể cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh khác.
~_ Thứ 3, chức năng tiếp xúc: là chức năng thiết lập các mối quan hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người mua tiềm năng. Với những kênh phân phối được thiết kế và quản lý chặt chẽ, sản phẩm của nhà sản xuất sẽ được. phân phối rộng khắp len lỏi cả vào những ngách thị trường hẹp nhất. Đó là điều kiện để nhà sản xuất tiếp xúc với khách hàng thông qua sản phẩm của mình.
Từ đó thu thập được những thông tin phản hồi về sản phẩm nhằm cải tiến kịp thời, xây dựng niềm tin cũng như tạo dựng mối quan hệ với khách hàng. ~_ Thứ 4, chức năng cân đối: Định dạng nhu cầu và phân phối sản phẩm thích ứng với nhu cầu của khách hàng. Việc này bao gồm những hoạt động như sản xuất, xép hàng, tập hợp và đóng gói. Đối với mỗi khu vực địa lý, vùng miền khác nhau thì thói quen, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa của người tiêu dùng cũng khác nhau.
Những thông tin này được thu thập từ các nhà phân ul phối sản phẩm tại khu vực này. Đây là cơ so dé nha san xuất xác định được. nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng là gì? Thói quen của họ ra sao? Mẫu mã sản phẩm như thế nào? Từ đó có những điều chỉnh các mặt hàng phân phối tại khu vực đó cho thích hợp với nhu cầu người tiêu dùng. ~_ Thứ 5, chức năng thương lượng: là chức năng cố gắng để đạt được sự thỏa thuận cuối cùng về giá cả và những điều kiện khác liên quan để có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng sản phẩm.
~_ Thứ 6, phân phối vật chất: là chức năng vận chuyển, bảo quản và dự. trữ hàng hóa trong kho. Khi không có các thành viên kênh phân phối, thì sản phẩm của công ty sẽ được công ty phân phối trực tiếp đến người tiêu dùng. Điều này, tốn rất nhiều chỉ phí về vận chuyển, kho bãi, thời gian tiếp xúc với khách hàng.
Thay vào đó, các trung gian sẽ giúp nhà sản xuất trong vẫn đề này. Mỗi trung gian ở mỗi khu vực khác nhau sẽ đóng vai trò là kho bãi của nhà sản xuất. Sau khi sản phẩm được nhà sản xuất phân phối tới các trung. gian, khách hàng có thể tìm đến đó để mua.
Từ đó tiết kiệm được rất nhiều chỉ phí từ khâu vận chuyển đến khâu bảo quản hàng hóa, kho bãi ~_ Thứ 7, chức năng tài trợ: các thành viên tham gia vào kênh trong quá trình hoạt đông khi gặp khó khăn sẽ được hỗ trợ, huy động và phân bỗ nguồn vốn cần thiết do nhà sản xuất đưa ra nhằm đề dự trữ, vận chuyên, bán hàng và thanh toán các chỉ phí hoạt động của kênh phân phối. Đây là cách nhà sản xuất động viên khích lệ các thành viên hoạt động hiệu quả. ~_ Thứ 8, chức năng chia sẻ rủi ro: là chức năng chia sẻ rủi ro với nhà sản xuất trong việc vận chuyển, lưu kho và tiêu thụ sản phẩm. Đây là phương.
thức hoạt động tạo nên một khối thống nhất trong kênh phân phối từ trên xuống. Nếu có sự chia sẻ trách nhiệm các thành viên sẽ có ý thức hơn trong, mọi hoạt động của kênh và tự mình hoàn thành tót trách nhiệm. Dòng lưu chuyến trong kênh phân phối Kênh phân phối hoạt động thông qua các dòng lưu chuyền (dòng chảy). các dòng lưu chuyền trong kênh phân phối bao gồm: Dòng thông tin Dòngđàmphán Dòngsảnphẩm Dòng sở hữu Dòng xúc tiến Người sản | [Người sản| - |Ngườisản| | Nguoi sin} [Người sản xuất xuất xuất xuất xuất Công ty Công ty Công ty vận tải vận tải vận tải Người Người Người Người Người bán buôn | _ | bán buôn bán buôn bán buôn |_ | bán buôn Người Người Người Người Người bán lẻ bán lẻ bán lẻ bán lẻ bán lẻ Người Người Người Người Người tiêu đùng | _ | tiêu dùng tiêu dùng tiêu dùng |_ | tiêu dùng Hình 1.
Sơ đồ năm dòng chảy chính kênh phân phối ~ Dòng thông tin: Tắt cả các thành viên trong kênh phân phối đều tham gia vào dòng chảy thông tin và các thông tin này được chuyển qua lại hai chiều giữa từng cặp thành viên. Phần lớn các thông tin liên quan đến mua, bán, số lượng, chất lượng hàng hóa, giá bán sản phẩm, xúc tiến. - Dòng đàm phán: biểu hiện sự tác động qua lại lẫn nhau của các bên mua và bán liên quan đến quyền sở hữu sản phẩm. Công ty vận tải không nằm trong dòng chảy này vì không tham gia vào đàm phán.
~ Dòng sản phẩm: thể hiện sự di chuyển vật chất thực sự của sản phẩm 13 về không gian và thời gian, qua tắt cả các thành viên tham gia vào quá trình nây từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. ~ Dòng sở hữu: thể hiện sự chuyển quyền sở hữu sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Công ty vận tải không nim trong dong chảy này vì nó không sở hữu sản phẩm trong quá trình vận chuyển, nó chỉ tạo sự thuận lợi trong quá trình trao đổi. ~ Dòng xúc tiến: Thể hiện sự hỗ trợ về truyền thông tin sản phẩm cho người sản xuất, các thành viên kênh dưới hình thức quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng.Ở đây có sự tham gia của các đại lý quảng cáo cung cấp và thực hiện các dịch vụ quảng cáo.
Người sản xuất và đại lý quảng cáo. sẽ làm cùng nhau để phát triển các chiến lược xúc tiến hiệu quả trong kênh.