Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản trị quan hệ khách hàng. Chương 2: Thực trạng về quản trị quan hệ khách hàng của ngân hàng TMCP công thương ~ Chỉ nhánh Hội An. Chương 3: Công tác quản trị quan hệ khách hàng của ngân hàng TMCP. Công Thương — Chỉ nhánh Hội An.
Tổng quan tài u nghiên cứu Để hoàn thiện luận văn và hiểu CRM là gì, tác giả đã thu thập một số tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình như các tài liệu lý thuyết về Marketing và quản trị quan hệ khách hàng, bài nghiên cứu về quản trị quan hệ khách hàng của một số tác giả trước đây; cũng như những bài báo, website nói về quản trị quan hệ khách hàng. Sau đây là nội dung tham khảo một số tài liệu: Cuốn “ Quản trị quan hệ khách hàng” do Thạc sĩ Phạm Văn Dung biên dịch đã đưa ra định nghĩa về Quản trị quan hệ khách hàng. “Là một phương pháp ( chiến lược ) toàn diện để tạo ra, duy trì và mở rộng mối quan hệ với khách hàng”. Chúng ta định nghĩa CRM là một “phương pháp” ( Phương pháp là các cách thức được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tô chức luận cứ đề chứng minh luận điểm_theo Wikipedia ).
Vì CRM là một cách thức tìm kiếm, tổ chức và xử lý các mối quan hệ khách hàng. Cũng có thể nói CRM là một chiến lược, bởi vì CRM nó bao gồm cả một kế hoạch rõ ràng và chỉ tiết. Thật chiến lược CRM của bạn có thé được coi là chiến lược căn bản cho mọi chỉ lược khác của tổ chức. Bất kỳ chiến lược nào của tổ chức không đáp.
ứng cho việc tạo ra, duy trì và mở rộng mối quan hệ với khách hàng mục tiêu của tổ chức đều được xem là không nhằm đáp ứng cho tổ chức đó. Thứ hai, chúng ta nói CRM là một phương pháp “toàn diện” là vì sao? CRM không phải dành cho riêng hoạt động kinh doanh và Marketing hay cũng không phải được chịu trách nhiệm chính bởi bộ phận chăm sóc khách hàng trong tổ chức hoặc phòng IT. Từng phòng ban tương ứng với từng chức năng riêng trong công ty đều có liên quan đến chiến lược CRM. Nói cách khác CRM là một chiến lược hay phương pháp được đưa ra và thực hiện có liên quan đến tắt cả các phòng ban, bộ phận của công ty.
Khi CRM không có liên quan đến một phòng ban nào đó, ví dụ như phòng IT, thì chất lượng quan hệ khách hàng sẽ bị giảm. Hay cũng như thế, khi bất kỳ một bộ phận nào trong tô chức đứng ngoài kế hoạch CRM thì tô chức đó sẽ gặp phải rủi ro lớn trong quá trình thực hiện quản lý mối quan hệ khách hàng của mình. 'Thứ ba, chúng ta nói tới cụm từ “tạo ra, duy trì và mở rộng” này có nghĩa CRM có liên quan đến toàn bộ chu kỳ và hành vi mua hàng của một khách hàng (trước — đang — và sau khi mua hàng), cũng như gắn kết chặt chẽ với quy trình trình doanh của tổ chức (Marketing — kinh doanh — và chăm sóc. Khi bạn thực hiện một chiến lược CRM bạn phải có được và phân tích dữ liệu về khách hàng mục tiêu của mình và hành vi mua hàng mục tiêu của họ.
Từ nguồn thông tin chất lượng này bạn có thể hiểu và dự đoán được hành vi mua hàng của khách hàng tốt hơn. Bài báo “ Kiến trúc CRM thành công”, tác giả Nguyễn Văn Hiếu — giám. đốc công ty cổ phần phần mềm BSC giúp người đọc hình dung tổng thể hơn về bức tranh CRM, từ vấn đề nhận thức, xây dựng kiến trúc, chiến lược, tầm nhìn, tới những phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống CRM. Tác giả đã chỉ ra rằng việc áp dụng CRM cần một kiến trúc chiến lược nên tảng và cân bằng giữa các nhu cầu để dựa trên đó đảm bảo các chương, trình thực hiện đạt kết quả thành công và cực đại hóa được lợi ích cho doanh nghiệp và cho khách hàng của doanh nghiệp.
Bài báo “Đánh giá mô hình CRM”, PC Word Việt Nam cho rằng việc xây dựng, vận hành hệ thống CRM ở mỗi doanh nghiệp thường khác nhau. Do vậy, vấn đề đầu tiên trong triển khai hệ thống CRM là phải đánh giá được mô hình CRM nào thích hợp nhất với đơn vị mình. Vì mỗi doanh nghiệp có tiêu chí hoạt động, mục tiêu kinh doanh và đặc thù khác nhau. Tuy nhiên, xét trên bình điện khảo sát chung, người ta có thể tham khảo mô hình mà số đông các doanh nghiệp lựa chọn, từ đó tham chiếu mức độ phù hợp đối với doanh nghiệp.
Bài báo đã chỉ ra được một tiến trình CRM cơ bản. Tiến trình này gồm 6 phần chủ yếu: xác định mục tiêu CRM, xây dựng cơ sở dữ liệu; phân tích, thống kê, lựa chọn khách hàng mục tiêu, tương tác khách hàng; đánh giá hiệu quả. Đây là tiến trình chung nhất về CRM, giúp cho các doanh nghiệp có thé thực hiện chỉ tiết từng bước nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc áp dụng CRM vào doanh nghiệp mình. Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã tham khảo đề tài: “Quản trị quan hệ khách hàng(CRM) tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)- CN Đà Nẵng” của học viên Nguyện Thị Bảo Thu thuộc Đại học Đà Nẵng đã sử dụng.
nhiều phương pháp tổng hợp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và nhiều phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đói chiếu, tổng hợp. trên cơ sở đó đưa ra những nội dung cần hoàn thiện phù hợp với khả năng. thực hiện nhằm đạt được các kết quả như: Nâng cao lòng trung thành của khách hàng thông qua các hoạt động CRM, xây dựng các kế hoạch hoạt động chăm sóc khách hàng, tăng cường các kế hoạch hoạt động chăm sóc khách hàng. Ngoài ra, luận văn còn tham khảo một số tài liệu lưu hành nội bộ của Ngan hang Vietinbank Hội An như số tay văn hóa doanh nghiệp, các công.
văn, báo cáo tài chính, và các thông tin thu thập từ website của Ngân hàng http://www.vn Website http://www.com va http://www.vn là các trang web cung cấp những kiến thức cơ bản về CRM, cũng như thực trang CRM tại Việt Nam. Hiện nay với việc ứng dụng công nghệ thông tin, CRM đang mang lại hiệu quả và những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp. Chính vì xây dựng và áp dụng CRM đang là một trong những xu hướng và nhu. p bách của doanh nghiệp.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. KHACH HANG VA QUAN HE KHACH HANG 1. Khái niệm khách hàng Theo Don Peppers and Martha Roger : “Không có công ty nào có thể thành công mà không cần đến khách hàng. Nếu bạn không có khách hàng thì bạn không có việc kinh doanh.
Bạn có một sở thích”. Do đó, khách hàng là một nguồn thu nhập của công ty Trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại thì doanh nghiệp hay ngân hàng cần phải có quan niệm đầy đủ hơn về khách hàng như sau: Khách hàng không đơn thuần là người mua hàng mà rộng hơn, khách hàng còn là những người mà doanh nghiệp phục vụ, những người tham gia vào quá trình cung ứng, dịch vụ của doanh nghiệp. Đối với một ngân hàng thì khách hàng tham gia vào quá trình cung cấp đầu và như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu. Đồng thời cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vay vốn từ ngân hàng.
Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Sự thành công hay thất bại của khách hàng là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, ngược lại sự đổi mới của ngân hàng về chất lượng. dịch vụ lại tạo điều kiện cho sự thành công trong kinh doanh của khách hàng. Sự cạnh tranh gay gắt đã và đang đặt ra cho doanh nghiệp nhiều thách thức.
khách hàng ngày càng có nhiều lựa chọn đối với cùng một loại hàng hóa hay dịch vụ. Thực tế chứng minh rằng các doanh nghiệp có chiến lược và kế hoạch đầu tư hiệu quả nguồn nhân lực cho việc nâng cao giá trị khách hang thì thường là các doanh nghiệp dành được thị phần lớn trong thương trường. rất nhiều doanh nghiệp cũng thực hiện thành công. Trở thành doanh nghiệp định hướng khách hàng có thể kéo theo các thay đổi về cơ cấu, quá trình, năng lực nhân sự.Những thay đổi đó phải được thẻ hiện trọng một lộ trình rõ ràng.
Doanh nghiệp phải xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác. Tom Peters xem khách hàng là "tài sản làm tăng thêm giá trị." Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trong số sách của công ty. Nhận thức được giá trị của loại tài sản này hy vọng sẽ giúp công ty hoạch định lại toàn bộ hệ thống tiếp thị của mình theo hướng giành lấy thị phần khách hàng và giá trị khách hàng trọn đời thông qua việc phát triển chuỗi sản phẩm/dịch vụ và chiến lược thương hiệu của mình. Hơn 30 năm trước, Peter Drucker nhắn mạnh tầm quan trọng của khách hàng đối với thành công của công ty.
Ông cho rằng mục tiêu của công ty là "tạo ra khách hàng. Vì vậy công ty có hai và chỉ hai chức năng cơ bản: tiếp thị và đôi mới. Tiếp thị và đổi mới tạo ra hiệu quả: tất cả những thứ còn lại là chỉ phí. Đặc điểm của khách hàng ngân hàng Các khách hàng của ngân hàng có thể là cá nhân và các hộ gia đình, các tổ chức, thậm chí khách hàng của nó có thể là một ngân hàng đồng nghiệp, một tổ chức tài chính tín dụng bất ốc tịch họ cư trú nơi đâu.
Khách hàng cá nhân và hộ gia đình ( tiêu dùng) Những người đóng vai trò chủ chốt, nắm vai trò quyết định trong gia đình, tối thiể là không phải trẻ vị thành niên sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc mua dịch vụ của ngân hàng. Thói quen giao dịch gần Nhu cầu nhỏ, đàn hồi cao Ít có những mối quan hệ qua lại, ràng buộc với ngân hàng. Thông thường, việc giao dịch là để phục vụ cho đời sống và sinh hoạt Tinh chuyên nghiệp trong giao dịch thấp Thời gian có liên quan đến quyết định thường ngắn hơn và mang tính chất hình thức 'Việc mua dịch vụ chịu nhiều nhân tố ảnh hưởng: tâm ý, văn hóa, xã hội và các nhân tố thuộc về bản thân họ.