Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng. Chương 2: Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Huyện Tây Hòa, Tỉnh Phú Yên. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Huyện Tay Hòa, Tinh Phú Yên 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tham khảo một số tài liệu về cơ sở lý luận quản trị quan hệ khách hàng, kết hợp tham khảo Luận văn Thạc sỹ của các đề tài có liên quan đã được bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng.
- Đề tài “Quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chỉ Nhánh Đà Nẵng” của học viên Nguyễn Chí Dũng thuộc Đại học Đà Nẵng đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng; phương pháp so sánh, thông kê, điều tra, khảo sát trực tí ; phân tích tổng hợp. để hệ thống hóa các quan điểm về quản trị quan hệ khách hàng, đúc cơ sở lý luận về công tác quản trị quan hệ khách hàng. Trên cơ sở đó đề at chiến lược triển khai hoạt động quản trị quan hệ khách hàng phù hợp với điều kiện kinh doanh của Vietcombank Đà Nẵng, nhằm mang lại giá trị tối ưu cho khách hàng, xây dựng và duy trì khách hàng trung thành, từ đó mang lại lợi nhuận cho ngân hàng trong dài hạn. - Đề tài “Quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” của học viên Phan Văn Đông thuộc Đại học Đà Nẵng đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp mô hình hóa, phương pháp phân tích, phương pháp mô tả dựa trên những dữ liệu thứ cấp, kết hợp với việc tham khảo tài liệu về quản trị quan hệ khách hàng.
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng trong thời kỳ hiện nay. Với mục tiêu nâng cao năng lực phục vụ khách hàng của hệ thống ngân hàng thương mại và duy trì lòng trung thành của khách hàng, tác giả đã đưa ra tiến trình triển khai cho các hệ thống ngân hàng theo các khu vực địa lý, giải pháp hoàn thiện quản trị quan hệ khách hàng theo triết lý 1:1, và đưa ra các tiêu thức đánh giá công nghệ quản trị quan hệ khách hàng. Những kết quả mà luận văn đạt được đã góp phần giúp các ngân hàng thương mại có thêm giải pháp dé lựa chọn chương trình quản trị quan hệ khách hàng phù hợp với ngân hàng mình. - Đề tài “Quản trị quan hệ khách hàng tại VNPT Đà Nẵng” của học viên Lê Thị Minh Hiền thuộc Đại học Đà Nẵng đã dùng phương pháp tổng hợp lý thuyết từ các tài liệu chuyên môn, thu thập số liệu từ các số liệu thực tế tại VNPT Đà Nẵng, thống kê, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch SỬ, tra phân tích kinh tế, các phương pháp khảo sát thực tế để định hướng hoạt động quản trị quan hệ khách hàng cho dịch vụ viễn thông của VNPT Đà Ning tai thị trường thành phố Đà Nẵng.
Từ những tài liệu tham khảo, tác giả uản trị quan hệ khách hàng không chỉ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn đem lại lợi ích cho khách hàng. Bởi khách hàng và sự thỏa mãn của khách hàng là mục tiêu mà quản trị quan hệ khách hàng nhắm tới. Nhờ có hoạt động quản trị quan hệ khách hàng mà mối quan hệ giữa VNPT và khách hàng trở nên gần gũi hơn, kho dữ liệu của VNPT về khách hàng cũng được cập nhật hơn. Qua đó, VNPT sẽ có sự điều chỉnh phù hợp khi đưa ra những chính sách, chiến lược kinh doanh cho mình.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. TONG QUAN VE KHACH HANG 1. Khái nệm về khách hang Khách hàng là người mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua. 19] Trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại thì doanh nghiệp cần phải có quan niệm đầy đủ hơn, bao quát hơn về khách hàng.
Khách hàng không chỉ đơn thuần là những người mua hàng của doanh nghiệp, mà rộng hơn, khách hàng còn là những người mà mình phục vụ, những người tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp. Như vậy, đối với mỗi doanh nghiệp, trong kinh doanh luôn có hai loại khách hàng: khách hàng bên trong và khách hàng bên ngoài. Khách hàng bên trong là đội ngũ lãnh đạo, các bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, hỗ trợ khách hàng, các phòng ban chức năng như phòng Kế toán ngân quỳ, phòng Kế hoạch — Nguồn vốn, phòng Hành chính. Khách hàng bên ngoài là tắt cả những người đã, đang và sẽ sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp.
Khách hàng nào cũng quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau, có khách hàng bên ngoài thì doanh nghiệp và khách hàng bên trong mới tồn tại. Ngược lại, nhờ có sự phối hợp, tương tác giữa các bộ phận bên trong doanh nghiệp, thì doanh nghiệp và khách hàng mới có mối quan hệ trao đôi, mua bán. Tuy nhiên, trong luận văn này khi nói đến khách hàng chủ yếu là nói về khách hàng bên ngoài. Khách hàng đang là của doanh nghiệp hôm nay, chưa chắc đã là của doanh nghiệp ngày mai.
Ngược lại, hôm nay họ chưa phải là khách hàng của doanh nghiệp nhưng ngày mai họ sẽ là khách hàng của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là, doanh nghiệp luôn có khách hàng hiện tại, khách hàng tương lai. Để liên tục phát triển và kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải giữ khách hàng cũ, khách hàng trung thành và luôn luôn phải đi tìm khách hàng mới. Khách hàng của ngân hàng thương mại là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp.
có nhu cầu sử dụng sản phẩm của ngân hàng và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó. Khách hàng tham gia vào cả quá trình cung cấp đầu vào như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu. Đồng thời cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vay vốn từ ngân hàng. Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển.
[2] Ngân GÀ nhân, Nhận tên gửi ,| hằng |Chovay ,| Cá nhân, doanh nghiệp Ì Uỷ thác đầu nư| thương | Đâuạự — | doanh nghiệp mại Hình 1.1: Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng 1. Tam quan trọng của khách hàng, - Khách hàng là trung tâm của mọi hoạt động kinh doanh. ~ Khách hàng chính là người đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Khách hàng cho biết nhu cầu, ước muốn của họ và doanh nghiệp dựa vào đó để sản xuất ra những gì mà khách hàng cần.
Như vậy, khách hàng luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Tắt cả các yếu tố khác như nhân viên, đội ngũ quản lý, mục đích cuối cùng vẫn là để tạo thêm khách hàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Phân nhóm khách hàng |2] Mỗi doanh nghiệp căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân loại khách hàng. Các tiêu thức phân nhóm khách hàng như: vùng địa lý, hành vi, điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu lợi ích.
Cụ thể: Căn cứ vào nguồn lợi khách hàng đem lại cho công ty thì chia khách hàng thành 06 nhóm: khách hàng siêu cắp, khách hàng lớn, khách hàng vừa, khách hàng nhỏ, khách hàng phi tích cực, khách hàng tiềm năng. Căn cứ vào tiêu chuẩn tính chất khác nhau của khách hàng thì chia khách hàng thành 02 nhóm: khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Phân loại khách hàng theo khu vực sở tại thì chia khách hàng thành 03 nhóm: khách hàng bản địa, khách hàng ngoại tỉnh, khách hàng quốc tế. Căn cứ vào vùng trực thuộc có thể chia khách hàng thành 03 nhóm: khách hàng thành phó, khách hàng thị trấn, khách hàng nông thôn.
Các ngân hàng thương mại căn cứ trên hoạt động của khách hàng để phân loại khách hàng. Khách hàng của các ngân hàng thương mại được chia thành các nhóm như sau: a. Khách hàng thuộc nghiệp vụ huy động vốn > Khách hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ. Các doanh nghiệp khi gửi tiền vào ngân hàng mục đích là để giao dịch thanh toán cho các nghiệp vụ kinh doanh của họ, bởi vậy, nguồn vốn này của ngân hàng không phải trả lãi hoặc trả lãi rất thấp.
Do đó rất có lợi cho ngân hàng khi dùng nguồn vốn này để cho vay. Mặt khác, ngân hàng còn tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong khâu thanh toán do dịch vụ ngân hàng tạo nên. > Khách hàng là các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức đoàn thể. Trong quá trình hoạt động, một số đơn vị có những hoạt động kinh doanh phụ nằm trong khuôn khổ pháp luật được Nhà nước cho phép hoặc có những khoản tiền không thuộc nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước như quà tặng, tiền cho thuê mặt bằng.
Các khoản tiền này sẽ được gửi tại ngân hàng dưới hình thức tài khoản chuyên dùng. Mục đích tiền gửi vào ngân hàng là để lấy lãi, ngân hàng cần khai thác tốt nguồn vốn này và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị gửi tiền. > Khách hàng là các tầng lớp dân cư. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển thì các tầng lớp dân cư sẽ có các nguồn thu nhập dưới hình thức tiền tệ gia tăng.
Số thu nhập này phân tán trong dân cư và cũng là một nguồn vốn để ngân hàng huy động. Khách hàng thuộc nghiệp vụ tín dụng Khách hàng vay vốn của ngân hàng có thể là những khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả vốn và lãi đúng theo cam kết. Nhưng cũng có những khách hàng có thể rất đễ không hoàn trả món vay. Việc này đòi hỏi ngân hàng cần có phương pháp lựa chọn khách hàng khi vay vốn dựa vào các chỉ tiêu tài chính như: khả năng thanh toán, chỉ tiêu hoạt động, khả năng tự tài trợ, khả năng sinh lời, chấp hành chế độ lập và gửi báo cáo tài chính; và dựa vào các chỉ tiêu phi tài chính như: uy tín trong quan hệ tín dụng, mức độ đảm bảo bằng tài sản, mức độ quan hệ với ngân hàng.