CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA TỎ CHỨC 1. TONG QUAN VE VAN HOA TO CHỨC 1.1, Khai nigm van héa t6 chire Đi từ khái niệm *văn hóa”, năm 2002, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa: *Văn hóa nên được. đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chắt, tri thức. và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sóng, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
Khi các khái niệm “văn hóa” và "doanh nghiệp” hay “công ty” hoặc “tổ chức” được kết hợp với nhau để trở thành một lĩnh vực nghiên cứu xác định, đặc thù thì sẽ có những định nghĩa vẻ khái niệm cụ thể về văn hóa, vay “van hóa tổ chức” là gì ? Thuật ngữ *văn hóa tổ chức” đã được vận dụng từ khá sớm trong lĩnh vực quản lí doanh nghiệp ở các nước phương Tây dưới tên gọi *văn hó; Trong một công trình nghiên cứu tiến hành vào năm 1952, Kroeber và Kluckholn đã thống kê được 164 cách định nghĩa khác nhau về “văn hóa” vận dụng trong các công ty. Cie tée gia Pettigrew (1979), Deal & Kennedy (1982), Smirch (1983) đều xác nhận rằng văn hóa tổ chức là một mô hình mẫu của các giả định được. chia sẻ mà tổ chức đã học hỏi được khi giải quyết các vấn đề liên quan đến việc điều chỉnh cho phù hợp với môi trường hoạt động. Johnson (1992) tiếp cận văn hóa tổ chức bao quát hơn với lập luận văn hóa tổ chức đại diện cho giá trị tập thể, niềm tin và nguyên tắc của các thành viên và là sản phẩm của các yếu tố như lịch sử, thị trường, công nghệ, chiến lược, loại nhân viên, phong cách quản trị và văn hóa quốc gia, văn hóa tổ chức tác động mạnh đến khả năng làm việc của người lao động.
DavenporL (1998) ví văn hóa là AND của tổ chức, nó khó nhận diện bằng mắt, có tính khuôn mẫu, định hình mọi hoạt động trong tô chức. “Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Văn hóa tô chức là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhát đối với một tổ chức đã biết” [5, 259]. “Theo các tác gid Michel Amiel, Francis Bonnet va Joseph Jacobs trong tác phẩm Quản lý hành chính - Lý thuyết và thực hành, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000: “Văn hóa tổ chức là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng” [9, 52] Một định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi do chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein đưa ra: “Văn hóa tổ chức là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung. Trong Giáo trình Quản trị chiến lược của các tác giả PGS.
Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Thanh Liêm và ThS. Trằn Hữu Hải, NXB Thống kê, 2009: “Văn hóa tổ chức là tập hợp các giá trị và chuẩn mực cụ thể được chia sẻ bởi con người và các nhóm trong một tổ chức và kiểm soát cách thức họ tương tác lẫn nhau và với các bên ngoài tô chức”. Trong bài nghiên cứu về Nội dung văn hóa trong tổ chức công đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước (2016), PGS.TS Nguyễn Hữu Hải cho ring: “Van hóa tổ +hite là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức.
Những quan niệm này phần lớn được các thành viên tự xác định 10 trong nhận thức, hành vi ứng xử và chỉ thích hợp cho tổ chức riêng và được họ duy trì, truyền cho các thành viên mới. Văn hóa tô chức có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách thức hoạt động riêng của từng tổ chức. Các mặt đó quy định mô hình hoạt động của tổ chức và cách ứng xử của các thành viên trong tô chức đó”. Như vậy, có thể hình dung văn hoá tổ chức có ngay từ giai đoạn thành lập tô chức, dần được hoàn thiện trong tiến trình phát triển của tô chức, lấy tô chức làm chủ thể, có không gian là môi trường xã hội và tự nhiên, có trục thời gian là toàn bộ quá trình tồn tại của tô chức.
Kế thừa, tổng hợp từ các khái niệm trên, tác giả luận văn đề xuất khái niệm văn hóa tổ chức như sau: “Văn hóa tổ chức là tổng thể các giá trị vật chất và tỉnh thần có tính bản sắc được tạo nên từ khi hình thành và xuyên suốt quá trình phát triển của tổ chức, có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tô chức và kiểm soát cách thức họ tương tác lẫn nhau và tương tác với các bên ngoài tổ chức”. Đặc điểm của văn hóa tỗ chức Có thể hiểu văn hóa của tổ chức giống như cá tính của tô chức đó. Văn hóa cũng chính là bản sắc riêng giúp một tổ chức không thể lẫn với tổ chức khác đù có c: 1ghoạt động. Thứ nhất, văn hóa tổ chức liên quan đến nhận thức.
Các cá nhân nhận thức được văn hóa của tổ chức thông qua những gì họ nhìn thấy, nghe được trong phạm vi tổ chức. Cho dù các thành viên có thể có trình đ liều biết khác nhau, vị trí công tác khác nhau, họ vẫn luôn có xu thế mô tả văn hóa tổ chức theo cách thức tương tự. Đó chính là sự thống nhất về văn hóa tô chức. Thứ hai, văn hóa tô chức có tính thực chứng.
Văn hóa tô chức đề cập đến cách thức các thành viên nhận thức về tô chức. Văn hóa tô chức hướng các thành viên tới việc hành động, vận dụng những triết lí, phương pháp ra quyết định khi hành động thay vì nhận xét, phê phán hay đánh giá về hệ thống các triết lí, giá trị của tô chức. Thứ ba, văn hóa tổ chức mang tính nhân sinh, tức là gắn với con người. Tập hợp một nhóm người cùng làm việc với nhau trong tổ chức sẽ hình thành.
nên những thói quen, đặc trưng của đơn vị đó. Do đó, văn hóa tô chức có thể hình thành một cách “tự phát” hay “tự giác”. Theo thời gian, những thói quen này sẽ dần cảng rõ rằng hơn và hình thành ra “cá tính” của đơn vị. nghiệp, dù muốn hay không.
đều sẽ dần hình thành văn hoá của tổ chức mình. Văn hóa tổ chức khi hình thành một cách tự phát có thể phù hợp với mong muốn và mục tiêu phát triển của tổ chức hoặc không. Chủ động tạo ra những. giá trị văn hoá mong muốn là điều cần thiết nếu tổ chức muốn văn hóa thực sự phục vụ cho định hướng phát triển chung, góp phần tạo nên sức mạnh cạnh tranh của mình.
Thứ tư, văn hóa tổ chức có tính giá trị. Không có văn hóa tổ chức “tốt" và “xấu” (cũng như cá tính, không có cá tính tốt và cá tính xấu), chỉ có văn hoá phù hợp hay không phù hợp so với định hướng phát triển của tổ chức. Giá trị là kết quả thẩm định của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang độ nhất định; và những nhận định này được thể hiện ra thành *đúng-sai”,. nhưng hằm ý của *sai” của “xấu”, về bản chất, chỉ là “không phù hợp”.
Giá trị cũng là khái niệm có. tính tương đối, phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian. Trong thực tế, người ta hay áp đặt giá trị của mình, của tổ chức mình cho người khác, đơn vị khác, nên dễ có những nhận định “đúng-sai” về văn hoá của một tổ chức nảo đó. Thứ năm, văn hóa tổ chức có tính én định.
Cũng như cá tính của mỗi con người, văn hoá tổ chức khi đã được định hình thì "khó thay đổi”. Qua 12 thời gian, các hoạt động khác nhau của các thành viên sẽ giúp các niềm tin, giá trị được tích lũy và tạo thành văn hoá. Sự tích lũy các giá trị tạo nên tính ổn định của văn hoá. Vai trò của văn hóa tổ chức 'Vấn đề văn hoá tô chức đã được nghiên cứu rộng rãi trong suốt máy thập ki qua.
Các nghiên cứu đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hoá tổ chức và hiệu quả hoạt động của tô chức. Một lý do hiển nhiên là: sự quản lý mang tính quan liêu chỉ có thể mua được thể xác con người chứ không mua được trái tìm của họ. Một nền văn hoá tổ chức vững chắc, trái lại, có thể là yếu tố mang lại động lực cũng như sự tân tâm thực sự. Với văn hoá tổ chức vững mạnh và có tính cố kết thì những.
giá trị cốt lõi của tổ chức được lưu giữ một cách bền vững và luôn được chia sẻ một cách rộng rãi. Những niễm tin chung ở mức độ cao như vậy sẽ dẫn đến việc tạo nên sự nhất trí, đồng lòng trong nhân viên một cách dễ dàng. Ngoài ra, chính điều đó còn hình thành được sự tập trung vào những mục tiêu quan trọng, giảm thiểu những mâu thuẫn có thể xảy ra, xây dựng một môi trường. học hỏi lẫn nhau và giảm tỉ lệ điều động, thuyên chuyển nhân viên.
Một nền văn hoá vững chắc có khả năng thu hút độc nhất vô nhị để tập hợp mọi người. Chúng ta không cần phải thúc ép các nhân viên làm việc mà họ sẽ tự nguyện làm việc một cách chăm chỉ. Họ tự xem mình là một phần của tổ chức, giống, như là một phần của gia đình, và cộng đồng. 'Văn hóa tổ chức còn có vai trò tạo điều kiện cho các bên tham gia vào các quan hệ của tổ chức, là điều kiện đề phát triển tỉnh thần và nhân cách cho.
con người, đem lại giá trị toàn diện cho con người, đồng thời văn hóa tô chức vừa là mục tiêu vừa là ông lực đẻ phát triển con người. Khi liệm giá trị văn hóa tổ chức Về bản chất, giá trị văn hoá là khái niệm liên quan đến chuẩn mực đạo. 13 đức và cho biết các thành viên của một nền văn hóa xác định điều gì là đáng.