CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE PHAT TRIEN THUONG HIEU SAN PHAM NONG NGHIEP 1. Khái quát chung về thương. Khái niệm và phân loại thương hiệu 1. Khái niệm thương hiệu Hiện nay “thương hiệu” nói chung và các thuật ngữ khác có liên quan đến thương hiệu đang được quan tâm và sử dụng phô biến tại Việt Nam.
Thương hiệu được đem ra bàn luận, trao đổi hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, "Nhiều diễn đàn cũng như hội thảo khoa học được tổ chức tập trung trao đổi những vấn đề về quản trị thương hiệu. Mặc dù cho tới nay vẫn còn nhiều tranh cãi về khái niệm thương hiệu hay các nội dung quản trị thương hiệu khác nhau. Ở Việt Nam, trong hệ thống luật hiện hành, khái niệm thương hiệu không xuất hiện mà chỉ có những thuật ngữ liên quan khác như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp.Đối với thương hiệu, một số quan điểm tiếp cận phổ. biến được nhiều người nghiên cứu như: Thương hiệu là nhân hiệu.
Nhiều người nhận định rằng thương hiệu là nhãn hiệu thương mại (hay nhãn hiệu). Theo quan điểm này thì thương hiệu hoàn toàn không có gì khác biệt so với nhãn hiệu. Chính xác thì phải dùng thuật ngữ nhãn thần hiệu là đấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kế cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yêu tổ đó, được thể hiện bằng. một hoặc nhiều màu sắc, có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhăn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thẻ khác” (Luật sở hữu tri tuệ sửa đôi bỗi sung năm 2009).
Tuy nhiên, thực tế, thông qua một số đa dạng các dấu hiệu mà khách hàng vẫn có thể dùng để nhận biết và phân biệt giữa sản phẩm của các nhà sản xuất khác nhau như khẩu hiệu, kiểu dáng cá biệt hay thậm chí là âm thanh. “Thương hiệu là nhãn hiệu nổi tiếng và đã đăng ký bảo hộ”. Nhận thấy theo cách tiếp cận này thì không thể được coi là thương hiệu nếu như nhãn hiệu của nó. chưa được đăng ký.
Ví dụ như cafe Trung Nguyên là một thương hiệu do đã đăng ký bảo hộ được ở Việt Nam. Tuy nhiên sẽ không được coi là thương hiệu trên thị trường Pháp, Úc (vì chưa xác lập quyền tại Pháp, Úc, điều này là vô. Hay nhiều nhãn hiệu mặc dù chưa đăng ký bảo hộ nhưng khi nhắc đến thì ai cũng biết, thậm. chí là yêu thích và thường được lựa chọn trong tiêu dùng.
“Thương hiệu là khái niệm chỉ chung các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ”. Quan điểm này hiện đang được rất nhiều người trường phái phát triển tai sản trí tuệ ủng. Tuy nhiên, không phải lúc nào một tên tuổi cũng phải được tạo dựng từ 3 yếu tố. Trong nhiều trường hợp, thật khó để đưa 3 yếu tố trên vào một nhãn hiệu.
Chính vì vậy, nếu hiểu theo quan điểm này vô hình chung chúng ta đã bỏ qua tằm. khái quát của khái 'm thương hiệu và ý nghĩa to lớn của thương hiệu đối với doanh nghiệp và sản phẩm. “Thương hiệu là dành cho doanh nghiệp còn nhãn hiệu là dành cho hàng hóa”. Theo quan điểm này thi Honda là thương hiệu còn Super Dream là nhãn hiệu hàng hóa.
Yamaha là thương hiệu còn Sirius được gọi là nhãn hiệu hàng hóa, 'Vietel là tên thương hiệu còn My Viettel được gọi là nhãn hiệu dich vụ. Vậy còn Samsung, LG sẽ được hiểu là thương hiệu hay nhãn hiệu? Mặc dù có nhiều cách hiểu về thương hiệu được xem xét dưới các quan điểm. khác nhau nhưng tựu trung lại thường khi nhắc tới thương hiệu, đó chính là uy tín của đoanh nghiệp, cảm nhận ấn tượng về sản phẩm của doanh nghiệp, là những điểm nỗi bật so với đối thủ cạnh tranh trong ngành hàng. Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, thương hiệu được tiếp cận là “một hoặc một tập hợp các dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm, doanh nghiệp.
Là hình tượng về sản phẩm, doanh nghiệp trong tâm trí công chúng ” (Nguyễn Quốc Thịnh, 2009). Như vậy, nội dung được bao hàm, an chứa trong thương hiệu rất đa dạng. “Thương hiệu là hình ảnh đẹp, là ấn tượng trong tâm trí khách hàng. Tuy nhiên, để làm nên hình ảnh đẹp, đưa cái tên hay các dấu hiệu trở nên khác biệt thì phải dựa trên chất lượng của hàng hóa, chất lượng của địch vụ mà doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng.
Những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài đó được gọi là hình tượng, thông qua đó người tiêu dùng dễ dàng nhận biết ra hàng hóa của doanh nghiệp. § Pháp luật chỉ bảo hộ những dấu hiệu phân biệt (nếu đăng ký bảo hộ) chứ không bảo hộ hình tượng vẻ hàng hóa và doanh nghiệp. Thương hiệu được bàn đến không chỉ đơn thuần với những dấu hiệu bằng màu sắc giúp người tiêu dùng phân biệt, nhận biết mà còn nói đến những điều khác biệt, cảm nhận tích cực trong tâm trí họ. “Thương hiệu thường được hiểu rộng hơn nhãn hiệu rất nhiều.
Phân loại thương hiệu Theo mức độ bao trùm của thương hiệu: Thương hiệu cá thê (thương hiệu cá biệt hay thương hiệu riêng), thương hiệu gia đình, thương hiệu tập thể (thương hiệu nhóm), thương hiệu quốc gia. Theo đối tượng mang thương hiệu: Thương hiệu sản phẩm, thương hiệu hàng hóa, thương hiệu doanh nghiệp. Theo tiêu chí vai trò chủ đạo: Thương hiệu chính, thương hiệu phụ, thương. hiệu bổ sung.
Theo tiêu chí hình thái thể hiện: Thương hiệu truyền thống, thương hiệu điện tử (thương hiệu trên mạng, tên miền). “Theo tiếp cận của Marketing và quản trị thương hiệu, thương hiệu được chia thành: “Thương hiệu cá thể (thương hiệu cá biệt hay thương hiệu hiệu riêng), thương hiệu gia đình, thương hiệu tập thể (thương hiệu nhóm), thương hiệu quốc gia. Trong đó: Thương hiệu cá biệt là thương hiệu của từng chủng loại hoặc từng tên hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Với thương hiệu cá biệt, mỗi một loại hàng hóa lại mang một thương hiệu riêng.
Vì vậy, một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác nhau có thể có nhiều thương hiệu khác nhau. Vi du: Dove, Closeup, Omo, Comfort, Clear, Lifebuoy. là các thương hiệu cá biệt của Unilever. hiệu cá biệt thường mang những thông điệp về những hàng hóa cụ thể như: tính ưu việt, tính nỗi trội, những tiện ích đích thực.
và được thể hiện trên bao bì hoặc chính là sự khác biệt của bao bì hàng hóa. Loại thương hiệu này luôn tạo cho người tiêu dùng một cơ hội lựa chọn cao ngay cả khi đó là những thương hiệu thuộc quyền sở. hữu của cùng một công ty. Thương hiệu cá biệt luôn gắn liền với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể và có thể tồn tại một cách độc lập trên hàng hóa, cũng có thể được gắn liền với các loại thương hiệu khác như thương hiệu gia đình hoặc thương.
hiệu tập thể, thương hiệu quốc gia. Thương hiệu gia đình là thương hiệu chung cho tất cả các hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp. Mọi hàng hóa thud các chủng loại khác nhau của doanh nghiệp đều mang thương hiệu như nhau. Ví dụ: Samsung, Biu" 1a thương hiệu gia đình.
Thương hiệu gia đình có tính khái quát rất cao và có tính đại diện cho tất cả các chủng loại hàng hóa của doanh nghiệp. Khi tính đại diện và khái quát bi vi phạm, doanh nghiệp cần tạo ra những thương hiệu cá biệt cho từng chúng loại hàng. hóa, dịch vụ cụ thể để chúng không ảnh đến thương hiệu gia đình. Thương hiệu gia đình có thể xuất hiện độc lập trên hàng hóa và có thể đi kèm cùng thương hiệu cá biệt hay thương hiệu quốc gia.
Xu hướng chung của rất nhiều doanh nghiệp đó là thương hiệu gia đình được xây dựng trên cơ sở tên giao dịch của doanh nghiệp hoặc. tên người sáng lập doanh nghiệp hoặc từ phần phân biệt trong tên thương mại của doanh nghiệp. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, thương hiệu gia đình được gọi là thương hiệu doanh nghiệp. Thương hiệu tập thể (thương hiệu nhóm) là thương hiệu của một nhóm hay một số chủng loại hàng hóa nào đó, có thẻ đo một cơ sở sản xuất hoặc đo các cơ sở: khác nhau sản xuất và kinh doanh (thường là trong cùng một khu vực địa lý, gắn với các yếu tố xuất xứ, địa lý nhất định).
Ví dụ như bánh đậu xanh Hải Dương. nước mắm Cát Hải, nhăn lồng Hưng Yên. Thương hiệu tập thê có đặc điểm khá giống với thương hiệu gia đình ở điểm có tính khái quát và tính đại điện cao. Nhưng, cũng có sự khác nhau với thương hiệu gia đình đó là thương hiệu tập thể thường được gắn liền với các chủng loại hàng hóa của nhiều doanh nghiệp khác nhau trong.
một liên kết kinh tế, kỹ thuật nào đó (cùng hiệp hội, cùng khu vực địa lý.) và tính đại diện được phát triển chủ yếu theo chiều sâu hơn là theo chiều rộng của phổ hàng. Trong các yếu tố của thương hiệu tập thể, ngoài tên gọi xuất xứ hoặc chỉ dẫn địa lý, còn có những dấu hiệu riêng của từng doanh nghiệp thành viên. Khái niệm thương hiệu chứng nhận Tiếp cận về “nhãn hiệu chứng nhận ” có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Theo quy định của Luật Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì *Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép 10 tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó đề chứng nhận các đặc tỉnh về xuấtxứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cắp dịch vụ, chất lượng, độ chỉnh xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu ”.
Ở Việt Nam, thương hiệu chứng nhận được áp dụng đối với nhiều ngành nghề, đặc biệt là lĩnh vực nông sản (điển hình là VietGap và Global Gap). Có thể hiểu “Thương hiệu chứng nhận là tập hợp các dấu hiệu, hình tượng của bên thứ ba để chứng nhận cho các thương hiệu khác nhau” (Bài giảng Thương hiệu tập thé, thương hiệu dịch vụ, thương hiệu chứng nhận - Bộ môn quản trị thương hiệu trường Đại học Thương mại, 2012). Như vậy, có thể hiểu thương hiệu chứng nhận. trước hết là nhãn hiệu mà chủ sở hữu cho phép cá nhân sử dụng trên sản phẩm đề chứng nhận vẻ các đặc tính của sản phẩm.
Sự xuất hiện của nhãn hiệu chứng nhận trên sản phẩm giúp người tiêu dùng yên tâm hơn về chất lượng, xuất xứ cũng như các đặc tính của sản phẩm.