Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm mới cho dịch vụ tài trợ thương mại Chương 2: Thực trạng dich vy tai trợ thương mại tại Ngân hàng TMCP. Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chỉ nhánh Quảng Nam Chương 3: Phát triển sản phẩm mới cho dịch vụ tài trợ thương mại tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam 6. Tong quan tài liệu nghiên cứu Theo xu hướng phát triển của nền kinh tế hội nhập, các Ngân hàng Thương mại luôn đứng trước những khó khăn, thử thách và luôn đối đầu với sự canh tranh rất lớn, nên việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng là vô cung cấp thiết với các Ngân hàng Thương mại. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mới nói chung và phát triển sản phẩm tai trợ thương mại mới nói riêng cũng sẽ góp phần nâng cao chiến lược kinh doanh và hiệu quả của hệ thống kinh doanh trong xu thế toàn cầu hóa đất nước.
Ở Việt Nam mặc dù các Ngân hàng Thương mại cũng nỗ lực phát triển các sản phẩm tài trợ thương mại mới tuy nhiên số lượng sản phẩm còn hạn chế, chưa bám sát nhu cầu của khách hàng và hiện tại cũng chưa nhiều có công trình nghiên cứu liên quan đến việc phát triển các sản phẩm tài trợ thương mại này. “Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã tham khảo các tài liệu sau: > Giáo trình - Gido trinh “Principles of Marketing” (Nguyên lý Tiếp thị) năm 2012 của Philip Kotler & Gary Amstrong. Giáo trình gồm 20 chương, trong giáo trình tác giả ngoài việc nêu lên các các khái niệm cốt lõi của lĩnh vực tiếp thị còn tập trung sự chú ý vào công việc tiếp thị trong bối cảnh kinh tế đầy thách thức hiện nay: tạo ra những công đồng người tiêu dùng sôi nỗi và tương tác — những người đã, đang và sẽ biến sản phẩm và thương hiệu thành một phần quan trọng cuộc sống của mình. Giúp chúng ta hiểu rõ cách thức tạo giá trị và giành được lòng trung thành của khách hàng.
Tác giả trình bay thông tin tiếp thị nền tảng theo một hình thức sáng tạo và đễ hiểu, được tổ chức xoay quanh giá trị khách hàng. - Giáo trình “Quản trị Marketing Định Hướng Giá Trị”, 2012 của PGS.TS Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Xuân Lăn, ThS. Võ Quang Trí, ThS.
Dinh Thị Lệ Trâm, ThS. Nội dung giáo trình tập trung làm rõ hơn quan hệ giữa các hoạt động Marketing và quá trình sáng tạo giá trị cho khách hàng và doanh nghiệp. Cấu trúc giáo trình được xây dựng thành 05 phần gồm 13 chương theo mô hình 4D của Marketing định hướng giá trị + Phần 1: Thấu hiểu Quản trị Marketing định hướng giá trị + Phần 2: Xác định giá trị + Phan 3: Phat triển giá trị + Phan 4: Truyền thông và chuyển giao giá trị. ~ Giáo trình “Nguyên lý Marketing”, 2007 của TS.
Nguyễn Dinh Tho, Nguyễn Thị Mai Trang. ~ Giáo trình “Marketing Dịch Vụ Tài Chính” Nhóm tác giả Học viện Ngân hàng, Nhà Xuất Bản Thống Kê. * Các tài liệu tài liệu nghiên cứu chuyên ngành: ~ Giáo trình “Tài trợ thương mại quốc tế”, 2012, PGS.TS Nguyễn Thị Quy. ~ Giáo trình “Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”, 2006, TS.
Nguyễn Thị Thu Thảo. Các giáo trình đã nêu khái quát khái niệm và cách thức thực hiện những. phương thức của dịch vụ tài trợ thương mại, những luật lệ cần tuân thủ nếu mỗi sản phẩm tài trợ thương mại dẫn chiếu đến. Tài trợ thương mại là một lĩnh vực hàm chứa nhiều nội dung phong phú, đa dạng về mặt nghiệp vụ đồng thời cũng không ít rủi ro đòi hỏi người tài trợ và người được tải trợ không.
những am hiểu về luật lệ quốc gia mà còn phải am hiểu các luật lệ quốc tế để tránh những tôn thất không đáng có. > Bài báo: Bài báo “Gian lận và giả mạo chứng từ trong hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại quốc tế tại các Ngân hàng Thương Mại”, Tạp chí Ngân hàng. số 04 ngày 24/04/2017 CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE PHAT TRIEN SAN PHAM MOI CHO DỊCH VỤ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI 1. TONG QUAN VE PHAT TRIEN SAN PHAM/DICH VU MOL 1.
Tổng quan về sản phẩm dịch vụ « Sản phẩm và dịch vụ Sản phẩm là thứ có thể được đưa ra thị trường để thu hút sự chú ý, tiếp nhận, sử dụng hoặc tiêu thụ, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu đòi hỏi nào đó. Sản phẩm được hiểu không chỉ là bao gồm các vật thể hữu hình như tủ lạnh, tivi, quần áo. mà còn được hiểu bao gồm dịch vụ, sự kiện, con người, nơi chốn, tổ chức, ý tưởng, hoặc tổ hợp các thứ đó.278] Dịch vụ là một dạng sản phẩm bao gồm hoạt động, lợi ích hoặc sự thỏa mãn được đưa ra tiêu thụ với đặc điểm vô hình, không dẫn đến sở hữu một thứ gì. Ví dụ như địch vụ du lịch, khách sạn, dịch vụ vận chuyền, dịch vụ sửa chữa.
[7, tr278] Sản phẩm bao gồm nhiều hơn những vật hữu hình. Theo nghĩa rộng, sản phẩm bao hàm tắt các dạnh thực thể, sản phẩm có thể là những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm, tô chức, ý tưởng hoặc phối hợp các yếu tố đó. Như vậy, chúng ta sẽ thỏa thuận sử dụng thuật ngữ sản phẩm một cách rộng rãi cho. tắt cả các sản phẩm nêu trên.
Sản phẩm/Địch vụ mới Sản phẩm mới có hai dạng, (1) mới đối với công ty, nghĩa là công ty chưa hề sản xuất hay phân phối và (2) mới đối với thị trường khi nó lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường.169] “Theo các tác giả Booz, Allen và Hammilton thì có sáu loại sản phẩm mới đối với doanh nghiệp và thị trường. ~ Sản phẩm mới đối với thế giới (new to the world products): tức là những sản phẩm mới tạo ra một thị trường hoàn toàn mới [I, tr. Ví dụ như Sonywalkman, dia compact nhimg san phẩm dạng này rất ít, nghiên cứu của Booz, Allen và Hamilton, chúng chỉ chiếm 10%.169] ~ Loại sản phẩm mới (new produet lines): Day là các dạng sản phẩm mới đối với công ty (thị trường đã và đang có những sản phẩm này). Những sản phẩm cho phép doanh nghiệp thâm nhập lần đầu tiên vào thị trường đã có sẵn.
Các sản phâm này không có gì khác với thị trường nhưng mới đối với công ty. Dang san phâm mới này chiếm tỉ lệ khá cao trên thị trường (20%).302] ~ Bổ sung chủng loại sản phẩm hiện có: Đây là các sản phẩm công ty bỗ sung vào dòng sản phẩm hiện có của công ty. Dạng mới này chiếm tỷ lệ khá cao (khoảng 26%) trên thị trường.302] ~ Cải tiến sửa đổi sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới có tính năng. tốt hơn hay giá trị nhận được cao hơn và thay thế những sản phẩm hiện có.
Dạng này chiếm tỷ lệ khá cao trên thị trường (khoảng 26%).302] ~ Sản phẩm được định vị lại: Những sản phẩm hiện có nhằm vào thị trường hay những phân đoạn thị trường mới. Loại này chiếm 7% trên thị trường.302] ~ Sản phẩm giảm chỉ phí: Những sản phẩm mới có tinh năng tương tự. nhưng với chỉ phí thấp hơn. Dạng này chiếm (khoảng 11%).302] * Sản phẩm mang tính đột phá Một sản phẩm mang tính đột phá là sản phẩm có những thuộc tính sau: ~ Những đặc điểm hiệu suất hoàn toàn mới lạ.
~ Những cải tiến về đặc điểm hiệu suất lớn hơn nhiều so với những đặc điểm đã có trong thị trường. ~ Giảm chỉ phí đáng kế cho những đặc điểm tương tự mà các sản phẩm khác cung cấp. 169] 'Vai trò của thông tin với các sản phẩm đột phá mang tinh tổng quát hơn là cụ thể trong những giai đoạn đầu của quy trình phát triển. Hiếm người có thể tưởng tượng một điều gì đó hoàn toàn mới — tức là những điều mà họ chưa từng trải nghiệm và vượt ra ngoài hiểu biết về chức năng kỳ thuật.169] v San phim cai tiến: Những sản phẩm cải tiến thường khai thác các đặc điểm hay công nghệ hiện hữu để phục vụ mục đích khác.
Theo nghĩa này sản phẩm cải tiến chỉ đại diện cho hình thức đổi mới không triệt để.169] So với các sản phẩm đột phá, các sản phẩm cải tiền mất ít thời gian và chỉ phí để phát triển hơn, vì phần cốt lõi của sản phẩm vẫn giữ nguyên, chỉ một vài tính năng được thay đổi để cải thiện hiệu suất hoặc làm cho sản phẩm có sức thu hút hơn khách hàng.169] Marketing dong vai trò truyền thống trong việc phát triển sản phẩm cải tiến, vì khách hàng có cơ sở để mô tả những gì họ muốn. Vì vậy các phương. pháp nghiên cứu truyền thống như khảo sát vào nhóm trọng điểm rất hữu ích. Đặc điễm của dịch vụ ~ Tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình không giống như những sản phẩm vật chất, chúng, không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua chúng.
Người đi căng da mặt không thể nhìn thấy kết quả trước khi đi mua dịch vụ đó, người bệnh đi khám bác sĩ tâm thần không thẻ đoán trước được kết quả khám bệnh.170] Để giảm bớt mức độ không chắc chắn người mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng vẻ chất lượng của dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng. dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy.170] ~ Tính không tách rời được: Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời. Điều này không đúng đối với hàng hóa vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiễu nắc trung gian mua bán, rồi sau đó mới tiêu dùng.
Nếu dịch vụ do một người thực hiện, thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. Vì khách hàng cũng có mặt khi dịch vụ được thực hiện, nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng và khách hàng là một tính chất đặc biệt của marketing. Cả người cung ứng lẫn khách hàng đều ảnh hưởng tới dịch vụ.170] ~ Tính không ổn định: Các dịch vụ rất không ổn định, vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dich vụ thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó. Để kiểm tra chất lượng các công ty dịch vụ có thể tiến hành ba bước Bước thứ nhất là đầu tư vào việc tuyển chọn và huấn luyện tốt nhân viên Bước hai là tiêu chuẩn hóa quá trình thực hiện dich vụ trong toàn bộ phạm vỉ tổ chức.