Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Công ty TNHH MTV Cao su Chư Mom Ray Chương 3: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Cao su Chư Mom Ray 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, việc tham khảo các tài liệu liên quan là rất hữu ích, giúp cho đề tài nghiên cứu sẽ được hoàn thiện hơn. Sau đây là một số để tài mà tôi đã tham khảo, phục vụ cho đề tài của mình: = Dé tai “Phát triển nguôn nhân lực tại Chỉ nhánh Ngân hàng Đâu tư và Phát triển Đắk Lắk” của Nguyễn Quang Huy (2012). Đề tài đã xác định việc phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thành công của một tổ chức đồng thời qua phân tích thực trạng về phát triển nguồn nhân lực, đề tài đã chỉ ra những thiếu hụt về năng lực cũng như những tồn tại trong phát triển nguôn nhân lực và nguyên nhân của những tồn tại đó.
Các vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực được hệ thống trong Luận văn là nguồn tham khảo. cho tac gia[8] = Dé tai “Phat trién nguôn nhân lực cán bộ, viên chức tại Ủy ban nhân đân quận Liên Chiểu” của Hà Lê Chỉ (2012). Tác giả sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đánh giá số liệu thống kê trong quá khứ, từ đó rút ra những ưu, nhược điểm làm cơ sở đưa ra những giải pháp nhằm. phát triển nguồn nhân lực cán bộ, viên chức quận Liên Chiều.
Đề tài đã nêu lên thực trạng nguồn nhân lực và đã chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế trong việc phát triển nhân lực cán bộ, viên chức. Từ những hạn chế và những nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và mong muốn công tác phát triển nguồn nhân lực ngày càng phát triển và thực hiện đúng chức năng. Tuy vậy, các giải pháp được đưa ra chưa phải là giải pháp đầy đủ và tối ưu nhất đề hoàn thiện công tác phát triển nguồn nhân lực tại Ủy ban nhân dân quận Lién Chiéu[4]. -Đề "Đào tạo và phát triển nguôn nhân lực tại khách sạn Tourane ” của tác giả Trần Kim Thọ do TS.
Đoàn Gia Dũng hướng dẫn khoa học, thực hiện 2012. Ngoài những phương pháp chung của khoa học kinh tế như phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp khảo sát thực tế, thống kê so sánh, phân tích[23]. - Nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực tại công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Nha Trang đến năm 2020” của nhóm tác giả Lương Hải Thiện, Phạm Xuân Thủy, Võ Hải Thủy (2015). Nghiên cứu đã hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực, phân tích thực trạng và đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực tại công ty, các nhóm giải pháp gồm: giải pháp đảm bảo nguồn nhân lực đủ về số lượng và cơ cấu phù hợp; giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải pháp phát triển trình độ lành nghề, giải pháp nâng cao khả năng làm việc nhóm.
~ Báo cáo khoa học “Một số lề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” - PGS.Võ Xuân Tiền (2010) , Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Da Nẵng số 5(40), bài viết đã nhấn mạnh: Nguồn nhân lực - nguồn lực quý giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong. Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách đề duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đảo tạo và phát triển nguồn nhân lực| 19] - Báo cáo khoa học “Phát huy nguôn nhân lực bằng động lực thúc đầy”— Ths. Theo bài viết : Trong nền kinh tế tri thức, khi giá trị sản phẩm hơn 80% là hàm lượng chất xám, tài sản nguồn nhân lực càng được đặt vào một vị trí quan trọng.
Thúc đây người lao động làm việc hiệu quả là vấn đ lết sức quan trọng trong các tổ chức. Người lao động làm việc nhiệt tình, năng suất và hiệu quả công việc cao thì các mục tiêu của tô chức sé dé dang đạt được hơn, từ đó tạo thuận lợi không ngừng phát triển [1 1]. - Đề tài “Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phân Vinatex” Lê Van Thông (2012). Nghiên cứu cho rằng giải pháp nâng cao năng lực người lao động là giải pháp cơ bản nhằm nâng cao toàn diện chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và nhận thức cho người lao động[ 17] Có thể khẳng định, đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo về vai trò và ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Cao Su Chư Mom Ray. Nhận thức điều đó, luận văn đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đã đạt được đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về lề phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Cao Su Chư Mom Ray. CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC TRONG DOANH NGHIEP 1. MỘT SÓ KHÁI NIEM 1.
Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được nghiên cứu ở hai khía cạnh. Thứ nhất nó là nguồn gốc phát sinh ra nguồn lực, nó nằm ngay trong. bản thân con người, và là sự khác biệt cơ bản giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác.
Thứ hai NNL được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con. Với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tao ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng, chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là đội ngũ những người lao động đang làm việc, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhân lực chính là thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động mà anh ta sử dung trong quá trình làm việc của mình I5] Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng, sức khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và chế độ nghĩ ngơi.
Thẻ lực con người còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh, việc khai thác các tiềm năng về thẻ lực của con người là có giới hạn.
Sự khai thác tiềm năng về trí lực của con người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người. Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự hoạt động của. mỗi doanh nghiệp. Phát huy tối đa nguồn lực con người là mong muốn của tắt cả các nhà quản trị có tri thức và kỹ năng quản trị tốt nhằm đem lại kết quả và hiệu quả làm việc tốt nhất cho bản thân mỗi người lao động cũng như cho doanh nghiệp của mình|2].
Phân loại nguồn nhân lực: Trong một DN, tổ chức tùy theo đặc thù kinh doanh, trình độ quản lý, điều kiện làm việc, mà người ta có thê phân chia NNL theo cách phù hợp nhất đẻ việc quản lý, sử dụng NNL có hiệu quả. Có nhiều cách để phân chia nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp như sau: Phân loại NNL theo cơ cấu chức năng: Theo cách phân loại này nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia thành: lao động gián tiếp, lao động trực tiếp. Lao động gián tiếp gồm lao động quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế và quản lý hành chính. Lao động quản lý kỹ thuật: là những người làm công tác lãnh đạo, chỉ đạo tô chức và hướng dẫn kỹ thuật trong DN.
Số lao động này gồm Giám đốc hoặc Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật Quản đốc họăc Phó Quản đốc phân Xưởng. Lao động quản lý kinh tế: Là những người làm công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Lao động quản lý hành chính: Là những người làm công tác hành chính, văn thư, đánh máy, điện thoại n lac,. Ngoài ra, trong DN còn có các loại lao động gián tiếp khác như: chuyên trách công tác Đảng, Đoàn thanh niên, Công đoàn,. Theo vai trò thực hiện chức năng, NNL gián tiếp trong DN lại được chia thành: Cán bộ lãnh đạo cấp cao, Cán bộ quản lý cấp trung, Cán bộ quản lý cấp cơ sở, các viên chức thừa hành.
Cán bộ quản lý cấp cao: là những người đảm nhiệm những chức vụ cao nhất trong doanh nghiệp, họ chịu trách nhiệm về sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và thực thi các công việc quản lý điều hành quan trọng nhất của doanh nghiệp. Cán bộ quản lý cấp cao có nhiệm vụ hoạch định chiến lược phát triển dài hạn của DN từ việc xác định mục tiêu chiến lược, cụ thể cho từng giai đoạn, xây dựng các chính sách và các giải pháp để tổ chức thực hiện trong toàn DN. Cán bộ quản lý cấp cao gồm: chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc. Cán bộ quản lý cấp trung: là chỉ cắp quản lý trung gian tiếp nhận các chiến lược, chính sách từ cán bộ quản lý cấp cao và biến chúng thành các kế hoạch, mục tiêu cụ thể để chuyển đến cán bộ quản lý cấp cơ sở thực hiện.
Trong DN có nhiều hay ít cấp trung gian phụ thuộc vào loại hình tổ chức của DN. Cán bộ quản lý cấp trung gồm: trưởng, phó các phòng ban chức năng, các chuyên viên, tổ trưởng, đội trưởng trực thuộc Giám đốc. Cán bộ quản lý cấp cơ sở: là cán bộ quản lý chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tại các đơn vị cơ sở của DN. Cán bộ quản lý cấp cơ sở gồm: Đốc công, tổ trưởng, đội trưởng.
+ Các viên chức thừa hành: Là những người làm công tác chuyên môn tạo ra thông tin và tích hợp các thông tin và áp dụng nó vào hoạt động kinh doanh.