Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CÓ PHÀN BƯU CHÍNH THỜI GIAN VÀNG Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIÊN NGUÔN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CÔ PHÀN BƯU CHÍNH THỜI GIAN VÀNG DEN NAM 2025 6. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đẻ PTNNL trong DN đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể các công trình nghiên cứu có liên quan như sau: Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Mỹ Linh - Trường Đại học Kinh tế Quốc dan (2017) “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế" đã làm sáng tỏ những. vấn đề lý luận liên quan đến đảo tạo, PTNNL nói chung và vấn đề đảo. tao, PTNNL trong DN nhỏ và vừa nói riêng.
Luận án đã đánh giá tông thể hoạt động đảo tạo, PTNNL trong DN nhỏ và vừa từ đó đề xuất và tìm ra nguyên nhân và đưa ra các giải pháp PTNNL nhỏ và vừa. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể xem là một tài liệu tham khảo hữu ích về PTNNL cho đại bộ phận các DN Việt Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ của tác giá Lê Quang Hùng (2018) *Phát triển nhân lực. chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”.
Tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thời kỳ 2015-2019. Tác giả tập trung vào 05 nhóm nhân lực cốt yếu của vùng: Nguồn nhân lực có trình độ cao đăng, đại học; Nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách; Đội ngũ giảng viên trường đại học, cao đảng; Nhân lực công nhân kỹ thuật và Đội ngũ Doanh nhân.TS Nguyễn Duy Dũng và TS. Trằn Thị Nhung đồng chủ biên (2015) NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội. “Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật bản hiện nay” Các tác giả đã phân tích hiện trạng PTNNL, các phương thức đảo tạo lao động chủ yếu trong các công ty Nhật bản từ những năm 1990 đến nay.
Tác giả đã nêu ra một số gợi ý và kiến nghị về sự PTNNL ở Việt Nam nói chung và trong công ty nói riêng trong thời gian tới Ngoài ra cũng có rất nhiều bài viết đăng trên nhiều tạp chí đề cập đến nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, xã hội nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu đã được công bố chủ yếu đề cập đến nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu công nghiệp, các thành phố lớn., ít có đề tài nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp xây dựng đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế thế giới và trong nước đang gặp nhiều khó. khăn như hiện nay. Do vậy việc nghiên cứu để tài “Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phân Bưu Chính Thời Gian Vàng” trong điều kiện nền kinh tế hội nhập quốc tế như hiện nay là cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với DN, CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ PHÁT TRIEN NGUON NHAN LUC TRONG DOANH NGHIỆP 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Nguồn nhân lực Khái niệm “Nguồn nhân lực” (NNL) được sử dụng từ những năm 60. của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng. rai kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay.
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, tùy theo cách tiếp cân và cách hiểu khác nhau của mỗi tác giả mà có quan niệm khác nhau về NNL. Có thể nêu một số quan niệm như sau: Theo chương trình phát triển của Liên hợp quốc thì “NNL là trình độ lành nghề là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Do vay NNL là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tiềm năng đó bao ham tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đi hỏi.
Thực chất đó là tiềm năng của con người vẻ số lượng, chất lượng và cơ cấu, tiềm năng về thể lực con người thể hiện qua tình trạng sức khỏe của cộng đồng, mức độ đáp ứng về dinh dưỡng của xã hội. Tiềm năng vẻ trí lực là trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật hiện có cũng như khả năng tiếp thu trí thức, khả năng phát trién tri thức của NNL. Năng lực về nhân cách liên quan đến truyền thống lịch sử và nền văn hóa của từng quốc gia, nó được kết tinh trong mỗi con người và cộng đồng, tạo nên bản lĩnh. và tính cách đặc trưng của con người lao động trong quốc gia đó.TS Nguyễn Tiệp đã nhìn nhận NNL như sau: “Nguồn nhân lực bao gôm những người từ giới hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên và có khả năng lao động” [5,Tr.
Khai niệm này chỉ NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Dưới một góc độ khác “Nguén nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động " [Š,T>.10J, khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ấn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội.13] Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, ngưổn nhân lực được hiểu là một bộ phận của dân số bao gồm: toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động và tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Con người đóng vai trò chủ ông, là chủ thể sáng. tạo và chỉ phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Như vậy, NNL không chỉ đơn thuần là số lượng và cơ cấu lao động đã và sẽ có mà còn bao gồm cả chất lượng lao động (thể lực, trí lực, kỹ năng. nghề nghiệp) và phẩm chat lao động (thái độ, tác phong, phong cách làm › gà việc) nhằm đáp ứng yêu của một vùng hoặc của một q\ Nguôn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực của tô chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của DN do chính bản.
chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công. đoàn bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh.TS Nguyễn Tiệp thì “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gỗm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó còn nhân lực được hiễu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn luc nay gam có thể lực và trí lực °.TS Bùi Văn Nhơn cho rằng, “Ngưổn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương ”.
Phạm vì nghiên cứu của đề tài này, khái niệm về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được hiểu như sau: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là toàn bộ lực lượng lao động được đặc trưng bởi các yếu tổ số lượng, cơ cấu, chất lượng và phẩm chất của người lao động trong doanh nghiệp đó. Phát triển nguồn nhân lực Cũng giống như khái niệm về nguồn nhân lực, khái niệm về phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) cũng được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau của mỗi tô chức và cá nhân. Cụ thể: Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dan thi “PTNNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và ấp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người: ằn văn hóa; truyền thông lịch sử. Do đó, phát triển nguồn nhân lực đông nghĩa với quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt: thể lực, nhân cách đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó dé phát triển đất nước.104] “Theo Giáo trình Quản trị nhân lực Trường Đại học Kinh tế quốc dân thì: *Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động.
153] Khái niệm này chưa nhắn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của PTNNL là phát triển tổ chức, phát triển cá nhân người lao động. Theo khái niệm này thì nội dung PTNNL bao gồm ba hoạt động là: giáo dục, đảo tạo và phát triển Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp. hơn trong tương lai Đào (ao: được hiểu là các hoạt đông học tập nhằm giúp cho người lao đông có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn vẻ công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.