CHƯƠNG I NHUNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ TTQT. ICH VỤ VA PHAT TRIEN DICH VU 11. Kh iệm và đặc điểm của dịch vụ. Khéi nigm vé dich vu Hiện nay, có rắt nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: "Dịch vụ là các hoạt động nhằm thỏa mãn.
những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoại” Dịch vụ là bao gồm toàn bộ hoạt động trong suốt quá trình mà khách hàng và nhà cung cấp dich vụ tiếp xúc nhau nhằm thỏa mũn nhủ cầu của khách hàng mong đợi có được trước đó, cũng như tạo ra duge giá tị cho khách hàng. Dịch vụ là những hoạt động có ích của con người tạo ra những “sản phẩm” dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn diy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. Dịch vụ được chia thành 12 ngành lớn, trong mỗi ngành lớn lại bao gồm các phân ngành. Tổng cộng có 155 phân ngành với 4 phương thức cung cấp dịch vụ là: cung cấp qua biên giới, tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân trong đó có hoạt động ngân hàng, 5.
Đặc điễm cơ bản cña dịch vụ Mặc dù chưa có một khái niệm mang tính thống nhất về dịch vụ. nhưng, nhìn chung dich vụ gồm có các đặc điềm cơ bản sau: ~ Dịch vụ mang tính vô hình: Nếu như sản phẩm là những hàng hóa hữu. hình có chit cơ, lý, hóa học. nhất định, có tiêu chuẳn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thế sản xuất theo tiêu chuẩn thì dịch vụ không nhìn thấy, cảm.
nhận, nghe hoặc gửi được trước khi khách hàng mua hoặc cảm nhân nó. ~ Dịch vụ mang tính không thể lưu giữ được: Nghĩa là dịch vụ không thể lưu kho để bán, hoặc sir dung sau đó. Tính không thể lưu kho của dị không có vấn dé gì nếu nhu cầu đều đặn. ~ Dịch vụ mang tính không thể tách rời: Sản phẩm hữu hình được sản xuất, tồn kho để bán sau đó và có thể sẽ tiêu dùng sau đó nữa.
Ngược lại, dịch vụ trước hết phải được bán, sau đó mới được sản xuất và tiêu dùng và cùng một thời iễm. Tính không thể tách rồi của dịch vụ có nghĩa là địch vụ không thể tách rời khỏi người cung ứng dịch vụ cho dù người cung ứng dịch vụ có thể là con người hay máy móc. Tinh da dang và không ôn định về chất lượng: Có nghĩa là chất lượng, của dịch vụ phụ thuộc vào người cung ứng chúng cũng như khi nào, ở đầu và chúng được cung ứng như thể nào. Dịch vụ liên quan nhiễu đến con người trong quá tình sản xuất, con người ở đây chính là những người tiêu dùng và người cung cấp địch vụ.
Do vay, dich vụ yêu cầu sự khắt khe trong khâu kiểm soát chất lượng nhiều hơn hàng hóa, người cung ứng dịch vụ phải có tín nhiệm cao hơn và có khả năng, thích ứng cao hơn so với hàng hóa 1-12. Phát triển dịch vụ “Theo từ điễn bách khoa Việt Nam "Phát tí là biến đổi hoặc làm cho. đổi từ lớn nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp". Phát triển dịch vụ là việc mở rộng số lượng và không ngừng đổi mới, hoàn thiên và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, dịch vụ GTGT cùng với các chính sách marketing thích ứng với môi trường kinh doanh và nhu cầu khách hàng, để tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh cao trong việc thỏa mãn.
nhu cầu khách hàng. Phát tiễn ở đầy có nghỉlà phải luôn đưa ra được dịch vụ mới, đáp ứng. được những yêu cầu của khách hàng. Sự phát trễ dis we ly được phân tích trên hai khía cạnh: phát triển về chiều rộng và phát triển về chiều sâu.
Phát triển về chiều rộng là đa dạng hóa các loại hình dịch vụ. Không, chỉ đuy tr các hoạt động địch vụ truyền thông mà còn đa dạng các hình thức cung cấp, phát triển các dịch vụ ứng dụng khoa học kỹ thuật cao. Phát triển về chiều sâu là nâng cao chất lượng dịch vụ, hoàn thiện các địch vụ hiện có. Khi giữa các ngân hàng không có sự phan biệt về da dang hóa loại hình địch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tổ quyết định thành công của mỗi ngân hàng 1.
Dịch vụ thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại. Khải niệm dịch vụ thanh toán quốc tế “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chỉ trả và quyền hưởng lợi về tiễn tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan [7] “Từ khái niệm trên cho ấy, thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực. hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế giữa hai lĩnh vực hoại động này thường giao thoa với nhau, không có một gianh giới rõ rộ.
Hơn nữa, do hoạt động thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại (hương và phục vụ chủ yêu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực: Thanh toán trong ngoại thương và thanh toán phỉ ngoại thương, 5. Đặc điểm của dịch vụ thanh toán quốc tễ (Chi thé trong thanh toán quốc tế là các cá nhân, các pháp nhân, chính phủ ở các quốc gia khác nhau. Mỗi giao dịch thanh toán quốc tế có liên quan tối thiểu tới hai quốc gia. Hoạt động Thanh toán quốc tế liên quan đến hệ thống luật pháp của quốc tế như: UCP, Incoterm, ISBP.
hệ thống luật pháp của các quốc gia 'Nguễn luật điều chính của quốc tế và mỗi quốc gia có thể khác nhau (hậm chí là mâu thuẫn với nhau. Do đó, để giảm tính phức tap trong hoạt động thanh toán quốc tế, các bên tham gia thường lựa chọn các quy phạm pháp luật mang. tính thống nhất và theo thông lệ quốc tế. Đồng tiền trong Thanh toán quốc tế thường tồn tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán (Hồi phiếu, sóc, thẻ, chuyển khoản.), có thể là đồng tiền của nước người mua hoặc người bán, hoặc có thể là đồng tiền của nước thứ ba nhưng thường là ngoại tệ mạnh.
"Ngôn ngữ được sử dụng trong Thanh toán quốc tế thường là Tiếng Anh Thanh toán quốc tế đòi hỏi trình độ chuyên môn, trình độ công nghệ tương xứng trình độ quốc tế. 'Quan hệ thanh toán quốc tế bao gồm hai loại: 'Thanh toán Quốc tế trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) “Thanh toán phí ngoại thương (thanh toán phi méu dich) Vé co ban Thanh toán quốc tế phát sinh dựa trên cơ sở hoạt động ngoại thương. Thanh toán quốc tế là một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ.
Phương thức chuyển tiền Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của NH (gọi là người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiễn nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiễn do khách hàng yêu cầu. Hiện nay việc thanh toán hàng hóa thường sử dụng một trong hai hình thức sau: Chuyển tiền trả sau và chuyển tiễn trả trước 10 1. Phương thức thanh toán nhờ thu Nhờ thụ là phương thức thanh toán trong đó người XK sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành ủy thác cho NHÍ phục vụ mình thu hộ từ người NK "Phương thức nhờ thu được tiến hành dựa trên cơ sở những qui định của "Quy tắc thống nhất về nhờ thu”(The Uniform Rules for Collection) do Phòng, ‘Thuong Mai Quốc Tế (ICC) phát hành. Phương thức thanh toán nhờ thu gồm: Nhờ thu trơn (Nhờ thu không, kèm chứng từ - Clean colleetion) và Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary — Collection), 1.
Phương thức tín dụng chứng từ - Phương thức tin dung chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó 'Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hồi phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiễn đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đã đề ra trong thu tin dụng, ~ Thư tín đựng gồm các loại sau: + Thư tín dụng trả ngay không thể hủy ngang, + Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhân, -+ Thư tín dung không hủy ngang miễn truy đồi; + Tín dụng có thể chuyển nhượng; + Thurtin dung tuần hoàn; + Thu tin dung giáp lưng; + Thư tín dụng dự phòng; + Thư tín đụng thanh toán trả chậm. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TE, 1. Đối với Ngân hing 4. Tạo điều kiện để thu hút khách hàng, mở rộng thị phan và tăng thu nhập cho Ngân hàng thương mại “Thanh toán quốc tế là một dịch vụ quan trọng đối với các NHTM, nó.
không chỉ đem lại nguồn thu đáng kể mà còn thúc diy phát triển các hoạt đông kinh doanh khác của Ngân hàng như kinh doanh ngoại t8, tài tro xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tăng nguồn vốn huy động, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tế, từ đó đáp ứng được nhu cầu vay và thanh toán bằng ngoại tệ của khách hàng, Với vai tro la trung gian thanh toán, TTQT gop phần phát triển và đây mạnh hoạt động tín dụng, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách bằng trong và ngoài nước, từ đó tăng qui mô hoạt động và mở rộng, thị phần của ngân hàng. Làm tăng tính thanh khoản và giảm rải ro trong kinh doanh của “Ngân hàng thương mại “Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng nguồn huy động vốn, tăng tính thanh khoản cho ngần hàng thông qua số dư tiền gửi của khách hàng trong quá trình thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế như: ký quỹ mé LIC trong phương thức thư tín dụng chứng từ. Hơn thể nữa, trong bồi cảnh nền kinh tế toàn cầu có nhiều biển động, với việc kinh doanh nhiễu lnh vực, dich vụ TTQT sẽ là phương thức hiệu quả nhất để phân tán rủi to trong kinh doanh ngân hằng, Lợi nhuận thu được từ dịch vụ TTỌT góp.