Chương I: Cơ sở lý luận về bảo lãnh ngân hàng và phát triển dịch vụ bảo lãnh ngân hàng. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ bảo lãnh tại chỉ nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB), TP Tam Ky, Tinh Quang Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ bảo lãnh tại chỉ nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB)_, TP Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong đề tài Phát triển hoạt động bảo lãnh ngân hàng tai Chi nhánh.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thành phố Đà Nẵng, Đặng Thị Khánh Phượng (2009), tác giả đã dựa vào nguồn số liệu quá khứ qua các năm, căn cứ vào các nghị quyết, các chiến lược kinh doanh, kế hoạch của Chỉ nhánh, vận dụng các phương pháp phân tích định lượng, phương pháp định tính, đánh giá so sánh, diễn dịch suy diễn, kết hợp với phương pháp điều tra thăm dò theo bảng câu hỏi về sản phẩm hoạt động bảo lãnh để làm sáng tỏ thực trạng hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh. Đồng th tài cũng đưa ra một số nội dung mới như: - Hệ thống hóa và cập nhật được cơ sở pháp lý trong nước và quốc tế về dịch vụ bảo lãnh ngân hàng. - Trình bày về thư tín dụng dự phòng đang sử dụng tại Mỹ và công cụ của bảo lãnh ngân hàng mà các nước còn lại trên thế giới áp dụng. So sánh những điểm giống và khác nhau của hai công cụ này để vận dụng vào thực tiễn tại Chỉ nhánh.
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Chỉ nhánh NHNN&PTNT Tp Đà Nẵng. Trong đề tài Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, Lê Thị Phương Thảo (2010), thông qua việc sử dụng các phương pháp truyền thống như thống kê và mô tả thống kê, so sánh, tông hợp, phân tích, suy luận logic, thu thập tài liệu từ sách báo, tạp chí, trang web. luận văn còn tiếp cận nghiên cứu theo hướng điều tra thị trường, tác giả đã phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng dịch vụ bảo lãnh tại NHNN&PTNT Việt Nam tinh Quảng Nam, những mặt đạt được cũng như hạn chế của NHNN&PTNT Việt Nam tỉnh Quảng Nam trong quá thực hiện hoạt động bảo lãnh. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động bảo lãnh tại NHNN&PTNT Việt Nam tỉnh Quảng Nam.
Trong đề tài Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội, Nguyễn Quang Hưng (2010), giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về Ngân hàng, những thế mạnh, những tồn tại cũng như những bước phát triển đáng kể trong những năm gần đây để vận dụng vào giải thích những thực trạng kinh doanh hiện nay tại SHB Chỉ nhánh Quảng Nam. Qua việc tham khảo một số công trình nghiên cứu về phát triển hoạt động bảo lãnh của các NHTM ở các địa phương, cùng với thực tiễn hoạt động. bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) - Chỉ nhánh Quảng Nam và nhu cầu của các doanh nghiệp trong việc sử dụng các sản phẩm bảo. lãnh, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại chỉ nhánh Ngân hang TMCP Sai Gòn - Hà Nội (SHB), TP Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam” là đề tài nghiên cứu của mình.
Mỗi nghiên cứu đưa ra những nhận định khác nhau về các tiêu chí đánh giá sự phát triển hoạt động bảo lãnh và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động bảo lãnh. Trên cở sở các nghiên cứu đó, kết hợp với thực tế tại SHB Chỉ nhánh Quảng Nam, luận văn đã tổng hợp các tiêu chí đánh giá sự phát triển hoạt động bảo lãnh và các nhân tổ tác động đến phát triển hoạt động. bảo lãnh phù hợp với thực tiễn tại đơn vị và tại địa bàn tỉnh Quang Nam, tao cơ sở lý luận để phân tích thực trạng trong chương 2, và đưa ra giải pháp trong chương 3. CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUẬN VỀ BẢO LÃNH NGÂN H PHÁT TRIÊN DỊCH VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1.
NHUNG VAN ĐÈ CƠ BẢN VỀ BẢO LÃNH NHTM 1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng là một dạng dịch vụ ngân hàng hiện đai, xuất hiện vào giữa những năm 60 ở một thị trường nội địa nước Mỹ. Sau đó, vào đầu những năm 70, bảo lãnh bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế và kể từ đó cho đến nay, với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loai giao dịch ( tài chính lẫn phi tài chính, thương mại lẫn phi thương mại), vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được cũng cố một cách chắc chắn Có thể khăng định rằng hầu hết các giao dịch lớn trong phạm vi quốc tế cũng như trong nội địa đều có sự hỗ trợ của bảo lãnh ngân hàng. Có hai hình thức bảo lãnh chủ yếu: - Bảo lãnh đối nhân: được áp dụng chủ yếu đối với các quan hệ phi tài sản trong các lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi tài sản trong dân sự.
~ Bảo lãnh đối vật: được áp dụng chủ yếu trong quan hệ kinh tế và dân sự có yếu tố tài sản, với sự đảm bảo rằng nếu bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đền bù cho bên nhận bảo lãnh với số tiền được thỏa thuận từ trước. Nhu vay, “Bảo lãnh Ngân hàng” là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tô chức tín dụng số tiền đã được trả thay. [6] “Bên bảo lãnh” là các tô chức tín dụng bao gồm các ngân hàng thương mại cô phần, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng liên doanh, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt nam, ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác và các tô chức tín dụng phi ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng. [6] Ngoài ra còn có các ngân hàng được thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện thanh toán quốc tế được thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh khác mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu theo quy định của pháp. luật về thương phiếu. Trong giới hạn mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo lãnh ngân hàng do NHTM phát hành. “Bên được bảo lãnh” là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam theo Luật doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có các tô chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, hợp tác xã và các tô chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của bộ Luật Dân sự, các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn đề thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam, hộ kinh doanh cá thể. Ngân hàng sẽ không được bảo lãnh đối với những người như sau: Thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, Tông Giám đốc (Phó Giám đốc) của các tô chức tín dụng; cán bộ, nhân viên của chính tô chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định bảo lãnh: bố; mẹ; vợ; chồng; con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đóc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc). [6] “Bên nhận bảo lãnh” là các tô chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của các tô chức tín dụng. “Cam kết bảo lãnh” là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo.
lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. “Hợp đồng bảo lãnh” là văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và bên nhận bảo lãnh hoặc giữa tô chức tín dụng, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và các bên có liên quan (nếu có) về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Các đặc điểm cơ bản của bảo lãnh ngân hàng 4. Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp Ngân hàng bảo lãnh không phải ngay lập tức dùng vn của mình để thực hiện nghĩa vụ, mà người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chính là người được bảo lãnh.
Chỉ khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thì người bảo lãnh mới phải thực hiện thay. Cam kết bảo lãnh ngân hàng phải được lập bằng văn bản Van bản bảo lãnh có thể là hợp đồng bảo lãnh, thư, điện, Telex hoặc ký hậu trên các giấy tờ có giá như hối phiếu, lệnh phiếu, giấy nhận nợ (trong trường hợp giấy tờ có giá quy định phải có sự bảo lãnh của ngân hàng); nội dung văn bản bảo lãnh phải thể hiện được sự cam kết của ngân hàng đối với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh số tiền đã tra thay Đặc trưng này phản ánh một quan hệ ràng buộc giữa ba bên là bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện các nghĩa vụ đối với bên thụ hưởng thì bên bảo lãnh thực hiện thay và bên được bảo lãnh phải có trách nhiệm nhận nợ và hoàn trả lại cho bên bảo lãnh số tiền bên bảo lãnh đã trả thay.
Như vậy, lúc này quan hệ bảo lãnh đã chuyền thành quan hệ tín dụng trực tiếp giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Tính độc lập tương đối trong nhiệm vụ bảo lãnh Một đặc tính hết sức quan trọng của bảo lãnh ngân hàng là tính độc lập với hợp đồng. Mặc dù mục đích của một bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho.