Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng trong công việc của người lao động Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu sự hài lòng của người lao động tại Công ty cỗ phần Vinaconex 2S Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị Luận văn này được hoàn thành nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ của Quý thấy cô, bạn bè và các anh chị công ty cổ phần Vinaconex 25. Tuy nhiên, do kiến thức của tác giả còn hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, phê bình đẻ luận văn đạt chất lượng tốt hơn. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ANghiên cứu ở nước ngoài - Ung dung thang do mô tả công việc JDI (lob Descriptive Index) năm 1969 của Smith et al là một trong những thang đo có giá trị và độ tin cậy được đánh giá cao trong lý thuyết và thực tiễn. Thang đo gồm có 5 yết an chat công việc, cơ hội đào tạo và thăng., lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương.
Sau nay Crossman và Bassem (2003) da bé sung thêm 2 nhân tố nữa đó là phúc lợi và môi trường làm việc. - Nghiên cứu của Foreman Facts (1946) về sự hài lòng của người lao động gồm có 10 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên, cũng đã được Kovach (1980,1994), Job Nelson, Blanchard Training & Development (1991), Silverthorne (1992), Sheryl & Don Grimme GHR Training Solution (1997-2001), Cynthia D.Fisher & Anne Xue Ya Yuan (1998) sử dụng để nghiên cứu trên nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Nga, Mỹ. - Nghiên cứu của Spector (1985) đã xây dựng mô hình riêng để đánh giá mức độ hài lòng và thái độ cho người lao độngtrong lĩnh vực dịch vụ và được phát triển và ứng dụng chủ yếu nhân sự của các tổ chức dịch vụ và tổ chức phi lợi nhuận như: Bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe. - Nghiên cứu “Sự hài lòng công việc của thành viên tiếp cận cộng đồng ở Hồng Kông” của Francis Wing-Lin Lee & Chris Sum-Yee Wong (2009) đã đưa ra mô hình gồm 8 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra được hai nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng công. việc là tính chất công việc và mối quan hệ đồng nghiệp. Nghiên cứu ở trong nước. Tại Việt Nam, mô hình JDI cũng có không ít tác giả sử dụng làm cơ sở cho công tác nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên như: - Trần Kim Dung (2005) trong dé tai “Nhu cau, sự hài lòng của người lao động và mức độ gắn kết đối với tổ chức”, đã sử dụng chỉ số JDI ngoài 5 nhân tố bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, tiền lương, lãnh đạo.
và đồng nghiệp, tác giả bỗ sung thêm hai nhân tố là phúc lợi và môi trường. làm việc để phù hợp với tỉnh hình cụ thể ở Việt Nam. Mục tiêu chính của nghiên cứu này nhằm kiểm định giá trị của các thang đo JDI cũng như là xác định các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến mức độ hài lòng trong công việc của lao động ở Việt Nam (Nguôn: Tạp chí Phát triển khoa học Công nghệ, Đại học Quốc gia TP HCM, 12/2005.8)) - Hà Nam Khánh Giao & Võ Thị Mai Phương (2011) nghiên cứu “Đo lường sự hài lòng công việc của người lao độngsản xuất tại Công ty TNHH M - DV Tân Hiệp Phát” gồm có năm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc thì trong đó nhân tố phúc lợi ảnh hưởng mạnh nhất trong mô hình. (Nguồn: Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 06.
~ Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) nghiên cứu “Đo lường mức độ hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty Cổ phần Fresenius Kabi Bidiphar” cũng đã sử dụng các thành phần bản chất công việc, cơ hội đào tạo. và thăng tiến, lãnh đạo, tiền lương, môi trường làm việc, đồng nghiệp, đánh giá thực hiện công việc và phúc lợi. Kết quả cho thấy nhân tố hài lòng cao nhất đó là đồng nghiệp. - Nguyễn Trần Thanh Bình (2009) thực hiện “Nghiên cứu sự hài lòng của người lao độngtại công ty cổ phần cơ khí chế tạo máy Long An”.
Mô hình nghiên cứu đã được xây dựng gồm từ 6 yếu tố: bản chất công việc, tiền lương, đồng nghiệp, lãnh đạo, cơ hội đào tạo và thăng tiến, môi trường làm việc. Kết quả nghiên cứu, tiền lương là nhân tố có tầm quan trọng nhất tác động đến sự hài lòng trong công việc đồng thời cũng là nhân tố được người lao động đánh giá kém nhất trong số các nhân tố tác động đến sự hài lòng của nhân viên. (Nguồn: Nguyễn Trần Thanh Bình 2009) Ngoài những nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả vừa trình bày ở trên còn có nhiều công trình nghiên cứu về sự hài lòng công việc của người lao động. Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu đã dựa trên 5 khía cạnh của thang đo JDL của Smith, Kendall và Hulin (1969) và đã có sự điều chỉnh và bé sung thêm các thang đo khác để phù hợp với điều kiện thực tế và đặc công việc của từng đơn vị mà các tác giả đã nghiên cứu CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE SU HAI LONG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Trong chương này sẽ trình bày lý thuyết về sự hài lòng công việc của người lao động, các nghiên cứu trong và ngoài nước về sự hài lòng của người lao động đối với công việc.
SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC 1. Khái niệm về nhu cầu, động cơ, động lực Có thể nói sự hài lòng của người lao động là một khái niệm rất rộng. Nó phản ánh nhiều khía cạnh liên quan đến người lao động. Đối với các nhà quản lý việc tìm hiểu xem mức độ hài lòng của cấp dưới, của người lao động như thế nào, hay tìm hiểu những nhu cầu mà người lao động đang cần.nhằm hài lòng mục đích cá nhân là một việc làm không hề đơn giản.
Sở dĩ có thể nói điều này là bởi sự hài lòng của mỗi người lao. động là khác nhau và rất phức tạp, không dễ lúc nào cũng có cách ứng xử hay đáp ứng kịp thời Mỗi người lao động đều có những nhu cầu khác nhau và một khi nhu cầu chưa được hài lòng sẽ tạo nên sự căng thẳng, từ đó tạo ra các áp lực hoặc các động lực thúc đây trong các cá nhân. Những áp lực này tạo ra việc tìm kiếm các hành vi để tìm đến những mục tiêu cụ thể mà nếu đạt tới các mục tiêu cụ thể này sẽ dẫn đến sự hài lòng. Nhu cau chưa „| Căng thắng „| Lựa chọn hành 2| Nổ lực hài lòng vi để hai long Ỉ Hài lòng |, Thành quả |, Hình 1.
Chuỗi mắt xích nhu cầu - hành vi — hai long (Nguén:htp:/www.vn Để hiểu được vấn đề đó trước hết ta tìm hiểu các khái niệm liên quan như nhu cầu của người lao động là gì; động cơ thúc đầy người lao động; động lực thúc đây người lao động, và cuối cùng là sự hài lòng của người lao động. Nhu cầu của người lao động Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tỉnh thần đề tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu có thể được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó.
Nhu cầu chưa được thoả mãn tạo ra một tâm lý căng thẳng đối với con người khiến họ tìm cách để thoả mãn nhu cầu đó. Người lao động cũng vậy họ bị thúc đây bởi một trạng thái mong muốn để có thể thoả mãn được những mong muốn này họ phải nỗ lực, mong muốn càng lớn mức nỗ lực càng cao tức là động cơ càng lớn. Nếu những mong muốn này được thoả mãn thì mức độ mong muốn sẽ giảm đi. Nhu cầu của người lao động rất phong phú và đa dạng.
Nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu đều gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phân phối các giá trị vật chat va tinh thẳn trong điều kiện xã hội đó. Nhưng dù trong nền sản xuất nào thì nhu cầu của người lao động cũng gồm hai nhu cầu chính: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh Nhu cầu vật chất là nhu cầu hàng đầu, đảm bảo cho người lao động có thể sống để tạo ra của cải vật chất, thoả mãn được những nhu cầu tối thiểu cùng với sự phát triển của xã hội các nhu cầu vật chất của con người ngày. càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Trình độ phát triển của xã hội ngày càng cao thì nhu cầu ngày càng nhiều hơn, càng phức tạp hơn, thậm chí những nhu cầu đơn giản nhất cũng không ngừng thay đổi.
Nhu cầu về tỉnh thần của người lao động cũng rất phong phú, nó đòi những điều kiện để con người tổn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái trong quá trình lao động. Trên thực tế, mặc dù hai nhân tố này là hai lĩnh vực khác biệt song chúng lại có mối quan hệ khắng khít nhau. Trong qúa trình phân phối nhân tố vật chất lại chứa đựng nhân tố về tỉnh thần và ngược lại, những động lực về tỉnh thần phải được thể hiện qua vật chất thì sẽ có ý nghĩa hơn. Cả hai nhân tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân người lao động nó không phải chỉ có một yêu cầu vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều đòi hỏi khác nhau.
Tuy nhiên tại mỗi thời liểm người lao động sẽ ưu tiên thực hiện yêu cầu mà được coi là cấp thiết nhất. Động cơ thúc đẩy người lao động Động cơ là ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định.201] Con người không chỉ khác nhau về khả năng hành động mà còn khác nhau về ý chí hành động hoặc sự thúc đây. Sự thúc đẩy phụ thuộc vào sức mạnh của động cơ. Động cơ đôi khi được xác định như là nhu cầu, ý muốn, nghị lực hoặc sự thúc đầy của cá nhân.
Động cơ hướng tới mục đích, cái mục đích có thể là ý thức hoặc chỉ trong tiềm thức. Động cơ là nguyên nhân dẫn đến hành vi, chúng thức tỉnh và duy trì hành động, định hướng hành vi chung của cá nhân.