phần mở đầu, Công ty Điện lực Quảng Ngãi là doanh nghiệp kinh doanh bán điện trên địa bàn Quảng Ngãi, sản phẩm điện cung cấp cho các hộ tại Quảng Ngãi được mua từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Sản phẩm điện được qui định đảm bảo chất lượng vẻ điện áp và tần số theo Luật Điện Lực và Nghị định 105/NĐ-CP. Công ty thực hiện chức năng. chủ yếu là cung cấp các dịch vụ liên quan đến sản phẩm điện bao gồm: dịch 10 vụ lắp đặt điện kế, ghi điện hàng tháng, phát hành hóa đơn, thu tiền điện, sửa.
chữa điện, kiểm tra điện, giải đáp các thắc mắc về giá điện, hóa đơn tiền điện. Với đặc điểm hiện nay thì Công ty mang đặc điểm chính của một công. ty cung cấp dịch vụ cho khách hàng sử dụng điện. Do đó, cần tìm hiểu rõ thêm một số khái niệm về dịch vụ của các nhà nghiên cứu trong luận văn này.
Để phục vụ tốt hơn dịch vụ của mình, ngành điện nói chung và Công ty Điện lực Quảng Ngãi nói riêng, đã tiên phong trong vấn đề áp dụng công. nghệ số hóa để phục vụ khách hàng tốt hơn, với phương châm lấy khách hàng làm trung tâm, chuyển đôi số là phải làm sao để người dân, khách hàng hưởng. Vậy nên trong công tác kinh doanh dịch vụ, từ 2013, EVN nói chung và Công ty Điện lực Quảng Ngãi (QNPC) nói riêng là đơn vị đầu tiên trong cả nước phát hành hóa đơn điện tử trên quy mô lớn. Tới 2019, QNPC đã hoàn thành đáp ứng điều kiện để cung cấp hợp đồng điện tử.
Các giao dịch của khách hàng với QNPC, từ khâu yêu cầu dich vụ đến ký hợp đồng, thanh toán, đều được thực hiện trực tuyến. QNPC cũng là doanh nghiệp Nhà nước đầu tiên hoàn thành việc tích hợp, cung cấp tắt cả các dịch vụ điện năng trên Công Dịch vụ công Quốc gia. Ngoài ra, Công ty cũng tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ KHCN, CNTT vào công tác quản trị nội bộ thông qua các chương trình phần mềm điều hành nội bộ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác. Cùng với đó, thông qua các website chăm sóc khách hàng ngành điện, ngay cả khi đang lướt Facebook, dùng Zalo, khách hàng cũng có thể yêu cầu dịch vụ điện, tra cứu, thanh toán tiền diện.
'Việc đổi mới, ứng dụng triệt để công nghệ đã thu hẹp khoảng cách giữa khách hàng và điện lực, tạo sự kết nối 24/7. Khách hàng không còn phải mắt công đi lại, đợi chờ, xếp hàng ở các phòng giao dịch điện lực. Công nghệ đã thay sức người, giúp khách hàng có những trải nghiệm tốt nhát về dịch vụ điện. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CUA KHACH HANG 1.
Sự hài lòng của khách hàng, a. Định nghĩa sự hài ng khách hàng Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng: ~ Oliver (1997) định nghĩa: “Hải lòng khách hàng là sự phản hồi của người tiêu dùng, là những nhận xét về các đặc tính của sản phẩm, dịch vụ hay. chính bản thân sản phẩm, dịch vụ này. Các phản ánh này sẽ cho thấy các mức độ hài lòng khác nhau khi họ tiêu thụ sản phẩm, dịch vu” ~ Theo Spreng và các đồng sự (1996) thì: “Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái cảm xúc tồn đọng trong tâm trí của họ sau khi sử dụng sản phẩm.
hay dịch vụ”. ~ Theo Zeithaml&Bitner, 2003 thì: “Sự hài lòng là quá trình nhận xét, đánh giá của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ mà sản phẩm hay dịch vụ này có đáp ứng được các nhu cầu và sự kỳ vọng của họ hay không”. ~ Theo tiêu chuẩn ISO 9000: 2000, phần cơ sở và từ vựng, sự thỏa mãn khách hàng là sự cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng các yêu cầu. Quá trình đó là tập hợp các thao tác để xác định giá trị của một đại lượng.
va Bearden (1995) lai cho ring sw hai long cita khách hàng là một nhiệm vụ của doanh nghiệp thể hiện qua mối quan hệ giữa những giá trị của sản phẩm, dịch vụ đó so với những mong đợi trước đó của khách hàng về chúng. - Theo Philip Koler& Armstrong (2004) Nhing nguyén ly tigp thị - NXB théng ké, trang 351: “Sự hài lòng của khách hàng về một cuộc mua tùy thuộc vào công năng của sản phẩm so với những gì người mua đang kỳ vọng. Người tiêu thụ có thể mang những cấp độ hài lòng khác nhau. Nếu công năng của sản phẩm yếu hơn so với kỷ vọng, khách hàng sẽ bắt mãn.
Nếu công năng, của sản phẩm khớp với kì vọng, khách hàng đó sẽ hài lòng. Nếu công năng. 12 còn cao hơn cả kỳ vọng, khách hàng sẽ hết sire hai long và vui mừng”. Sự kì vọng ở đây chính là các giá trị mang lại cho khách hàng ở mức cao nhất thì nó chính là khoảng cách sai biệt giữa tổng giá trị khách hàng và tổng phí tổn của khách hàng.
Tổng giá trị khách hàng là tổng các giá trị về sản phẩm, dịch vụ, nhân viên và hình ảnh mà khách hàng nhận được. Các nhân tố quyết định sự hài lòng của khách hàng ~ Chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các nghiên cứu vì sự khó khăn trong cả định nghĩa và đo lường nó, chất lượng. dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tủy thuộc vào đối tượng. và môi trường nghiên cứu.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng chất lượng dịch vụ là mức độ đáp ứng của dịch vụ với nhu cầu hoặc mong đợi của khách hàng, một số khác lại cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dich vu. Việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của Công ty. Vì vậy, nó không chỉ quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho Công ty phát huy được thế mạnh của mình một cách tốt nhất. Chất lượng dịch vụ có thể được hiểu thông qua các đặc điểm của nó.
Xét một cách tổng thể, chất lượng dịch vụ bao gồm các đặc điểm sau: + Tính vượt trội Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt trội “ưu việt” của mình so với những sản phẩm khác. Chính tính ưu việt nảy làm cho chất lượng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ. Sự đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ chịu. ảnh hướng rất lớn bởi sự cảm nhận tir phía người sử dụng dịch vụ + Tính đặc trưng của sản phẩm 13 Chat lượng dịch vụ là tông thẻ mặt cốt lõi nhất và tỉnh túy nhất kết tỉnh trong sản phẩm dịch vụ.
Vì vậy, dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng cao sẽ hàm chứa nhiều “đặc trưng vượt hơn so với dịch vụ cấp thấp. sự phân biệt này gắn liền với sự xác định các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm dịch vụ. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó xác định các đặc trưng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy đủ và chính xác. + Tính cung ứng, Chất lượng dịch vụ gắn liễn với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ đến khách hàng.
Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ và cách cung ứng dịch vụ sẽ quyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xấu. Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp dịch vụ. + Tính thỏa mãn nhu cầu. Dịch vụ được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Do đó, chất lượng dịch vụ nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu khách hàng và lấy yêu cầu của khách hàng làm căn cứ để cải thiện chất lượng dịch vụ. Nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không đáp ứng được nhu cẩu của mình thì họ sẽ không hài lòng. với chất lượng dịch vụ mà họ nhận được. + Tính tạo ra giá trị Rõ ràng, chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị được tạo ra nhằm phục vụ khách hàng.
Dịch vụ không sản sinh ra giá trị nào hết thì được xem là không, có chất lượng. Ví dụ, Công ty tạo ra giá trị và khách hàng là đối tượng tiếp nhận những giá trị đó. Vì vậy, việc xem xét chất lượng dich vụ hay cu thé hon là các giá trị đem lại cho khách hàng phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng chứ không phải của công ty. Thông thường, khách hàng đón nhận những giá trị dịch vụ mang lại và so sánh chúng với những gì họ mong đợi sẽ nhận được.
~ Giá cả dịch vụ Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa và dịch vụ. 14 Giá cả được xác định dựa trên giá trị sử dụng và cảm nhận của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ mà mình sử dụng. Khách hàng không nhất thiết phải mua sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao nhất mà họ sẽ mua những sản phẩm, dịch vụ đem lại cho họ sự hài lòng nhiều nhất. Chính vì vậy, những nhân tố như cảm.
nhận của khách hàng về giá và chỉ phí (chi phí sử dụng) không ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ nhưng sẽ tác động đến sự hải lòng của khách hàng. Khi mua sản phẩm dịch vụ khách hàng phải trả một chỉ phí nào đó để đổi lại giá trị sử dụng mà mình cần. Như vậy, chỉ phí đó được gọi là cái phải đánh đổi dé c6 duoc gid trị mong muốn từ sản phẩm dịch vụ. nếu đem lượng.
hóa giá cả trong tương quan giá trị có được thì khách hàng sẽ có cảm nhận vẻ tính cạnh tranh của giá cả là thỏa đáng hay không. Chỉ khi nào khách hàng. cảm nhận chất lương dịch vụ có được nhiều hơn so với chỉ phí sử dụng thì giá cả được xem là cạnh tranh và khách hàng sẽ hài lòng. Ngược lại khách hàng.
sẽ tỏ ra không hài lòng vì cảm thấy mình phải trả nhiều hơn so với những gì nhận được và giá cả trong trường hợp này sẽ tác động tiêu cực đến sự hải lòng. của khách hàng. Có thể lượng giá cả bỏ ra nhiều hơn so với giá trị nhận được nhưng khách hàng cảm nhận như thế là hợp lý thì họ vẫn sẽ hài lòng và ngược. Hai yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau tùy vào độ nhạy của khách hàng đối với giá cũng như mối quan hệ giữa người sử dụng dịch vụ với nhà cung.
cấp dịch vụ. Ngoài ra, để đánh giá tác động của nhân tố giá cả đến sự hài lòng.