Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2007 - 2016, ngành du lịch thành phố Đà Nẵng đã đạt tốc độ tăng trưởng lượng khách bình quân ấn tượng 21,93%/năm, doanh thu tăng trưởng bình quân 29,6%/năm và đóng góp tới 22,92% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của toàn thành phố. Đến năm 2017, tổng doanh thu du lịch ước đạt 19.403 tỷ đồng, tăng 20,6% so với năm 2016. Mặc dù được vinh danh là Điểm đến sự kiện và lễ hội hàng đầu châu Á cùng thương hiệu thành phố đáng sống, du lịch Đà Nẵng vẫn bộc lộ những điểm nghẽn chiến lược: thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt khoảng 2 ngày/người; tỷ lệ du khách quay lại lần thứ hai chỉ đạt 20,1% và lần thứ ba trở lên chỉ dừng ở mức 13,8%, trong khi lượng khách đến lần đầu chiếm tới 66,1%.

Trước bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ các điểm đến biển nổi tiếng trong khu vực như Bali hay Phuket, việc nhận diện chính xác các nhân tố cấu thành chất lượng điểm đến trở thành đòi hỏi cấp bách. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh với đề tài "Nghiên cứu chất lượng điểm đến du lịch - Khảo sát tại thành phố Đà Nẵng" được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định và kiểm định thang đo lường chất lượng điểm đến gồm 46 biến quan sát, đồng thời đánh giá khoảng cách giữa mức độ quan trọng kỳ vọng và chất lượng cảm nhận thực tế của du khách nội địa.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào khách du lịch nội địa tại các điểm tham quan, cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong khoảng thời gian từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018. Kết quả nghiên cứu mang lại cơ sở thực nghiệm vững chắc giúp các nhà quản lý đô thị và doanh nghiệp lữ hành tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các nền tảng lý thuyết quản trị du lịch hiện đại. Nổi bật là quan điểm của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2007; 2016) về quản lý điểm đến và định nghĩa chất lượng điểm đến du lịch như một kết quả tổng hợp đáp ứng nhu cầu, kỳ vọng của khách hàng với mức chi phí hợp lý cùng các điều kiện an toàn, cơ sở hạ tầng thiết yếu. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa mô hình đánh giá chất lượng trải nghiệm của Otto và Ritchie (1996), mô hình cảm nhận chất lượng dựa trên chuỗi giá trị và cấu trúc SERVQUAL của Alberto, Rocío và Salvador (2010).

Mô hình nghiên cứu nòng cốt được tác giả vận dụng và phát triển là khung đo lường tích hợp của Srabanti Mukherjee, Atanu Adhikari và Biplab Datta (2017). Khung lý thuyết này chia chất lượng điểm đến thành 3 phương diện chính bao gồm 13 nhân tố:

  • Điểm đến du lịch (Tourism Destination): Không gian địa lý nơi du khách lưu trú ít nhất một đêm, tích hợp sản phẩm, dịch vụ và tài nguyên thu hút.
  • Chất lượng điểm đến (Destination Quality): Giá trị tổng thể thỏa mãn các yêu cầu và kỳ vọng của du khách trong suốt hành trình.
  • Chất lượng dịch vụ (Service Quality): Đo lường qua 4 nhân tố gồm an toàn, thông tin, yếu tố pháp lý và thái độ của đội ngũ nhân viên.
  • Chất lượng trải nghiệm (Experience Quality): Cảm nhận của du khách qua 4 nhân tố gồm phản ứng cảm xúc, tính độc đáo của điểm đến, sự thân thiện của dân cư và điều kiện khí hậu.
  • Chất lượng đặc trưng điểm đến (Destination Attributes Quality): Đánh giá qua 5 nhân tố gồm ẩm thực, giao thông, cơ sở lưu trú, giá cả và cảnh quan thiên nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp phương pháp định tính và định lượng chặt chẽ:

  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu 5 chuyên gia (gồm 2 nhà nghiên cứu và 3 nhà quản lý du lịch giàu kinh nghiệm tại Đà Nẵng) cùng 5 du khách nội địa. Kết quả phỏng vấn định tính đã hiệu chỉnh thang đo từ 47 biến lý thuyết xuống còn 46 biến quan sát chính thức, bổ sung các đặc trưng sinh thái sông Hàn và khu du lịch sinh thái rừng núi Bà Nà, Sơn Trà.
  • Nghiên cứu định lượng: Thực hiện khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi cấu trúc theo thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không quan trọng/Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Rất quan trọng/Hoàn toàn đồng ý).
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Kích thước mẫu khảo sát phát ra là 300 phiếu đối với du khách nội địa theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2010), kích thước mẫu tối thiểu cần gấp 5 lần số biến quan sát (tương đương 46 x 5 = 230 mẫu), do đó quy mô 300 mẫu hoàn toàn đảm bảo độ tin cậy và giá trị đại diện cho phân tích thống kê.
  • Kỹ thuật phân tích: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, áp dụng thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (loại bỏ các biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3; chấp nhận thang đo có Cronbach's Alpha từ 0,6 đến trên 0,8) và phân tích nhân tố khám phá EFA.
  • Timeline thực hiện: Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018 nhằm phản ánh khách quan trải nghiệm mùa du lịch tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 300 phiếu khảo sát hợp lệ đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng chất lượng điểm đến du lịch Đà Nẵng:

  • Cảnh quan thiên nhiên và môi trường an ninh được đánh giá cao nhất: Du khách đánh giá rất cao yếu tố tài nguyên biển, danh thắng Ngũ Hành Sơn, cảnh quan sông Hàn và mức độ an toàn trật tự xã hội. Các biến quan sát về cảm giác an toàn ban ngày lẫn ban đêm đều đạt điểm trung bình cảm nhận vượt mức 4,1/5 điểm.
  • Hạ tầng lưu trú phát triển vượt trội nhưng phân bổ chưa đồng đều: Tính đến năm 2017, Đà Nẵng sở hữu 689 cơ sở lưu trú với 28.821 phòng, trong đó có hơn 16.402 phòng ven biển thuộc khối khách sạn 3 đến 5 sao. Tuy nhiên, mức độ thỏa mãn về tính đa dạng của các dịch vụ bổ trợ đi kèm trong khách sạn chỉ đạt mức trung bình khá.
  • Khoảng cách chênh lệch lớn ở dịch vụ giải trí và sản phẩm du lịch ban đêm: Sự thiếu hụt các khu vui chơi giải trí về đêm, trung tâm mua sắm quy mô lớn và các sản phẩm văn hóa nghệ thuật đặc trưng tạo ra mức chênh lệch âm đáng kể giữa kỳ vọng và thực tế trải nghiệm. Điều này lý giải tại sao 66,1% du khách là người đến lần đầu và thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 2 ngày/người.
  • Ẩm thực và sự thân thiện của người dân là đòn bẩy giữ chân du khách: Chất lượng ẩm thực phong phú, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cùng thái độ hiếu khách, văn minh của cộng đồng địa phương đạt hệ số tin cậy Cronbach's Alpha trên 0,82, đóng vai trò nhân tố then chốt tạo nên cảm xúc tích cực cho chuyến đi.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên bắt nguồn từ tính mùa vụ rõ rệt trong hoạt động du lịch miền Trung và sự chậm trễ trong việc hình thành hệ sinh thái kinh tế đêm. So với các trung tâm du lịch biển quốc tế như Bali hay Phuket, doanh thu du lịch Đà Nẵng dù đạt 19.403 tỷ đồng vào năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 đạt ước tính 13.925,5 tỷ đồng (tăng 52,4% so với cùng kỳ năm 2017), nhưng mức chi tiêu bình quân ngày của mỗi du khách vẫn còn ở mức khiêm tốn do thiếu các điểm chi tiêu cao cấp ngoài dịch vụ phòng.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp và đối chiếu qua bảng phân tích mức độ quan trọng - mức độ thực hiện (IPA) cùng các biểu đồ tăng trưởng lượng khách giai đoạn 2013 - 2017 đã làm rõ bức tranh: Đà Nẵng đang làm rất tốt ở nhóm yếu tố "Duy trì và phát huy" (an ninh, cảnh quan bãi biển, sự hiếu khách), nhưng lại rơi vào vùng "Cần tập trung cải thiện ngay" ở nhóm yếu tố hạ tầng giao thông công cộng, sản phẩm giải trí ban đêm và tính đa dạng của chuỗi cung ứng dịch vụ.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với khung lý thuyết của Srabanti và cộng sự (2017), khẳng định rằng chất lượng điểm đến không chỉ đơn thuần là chất lượng dịch vụ lưu trú hay vẻ đẹp tự nhiên, mà là sự hòa quyện đồng bộ giữa chất lượng dịch vụ, chất lượng đặc trưng và chất lượng trải nghiệm cảm xúc của du khách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng điểm đến du lịch Đà Nẵng:

  • Đột phá phát triển kinh tế đêm và đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Xây dựng và quy hoạch đồng bộ các khu phố ẩm thực đêm, trung tâm mua sắm miễn thuế, tổ hợp giải trí biểu diễn nghệ thuật đường phố hoạt động 24/7 ven sông Hàn và dọc bãi biển Mỹ Khê. Mục tiêu nâng số ngày lưu trú bình quân từ 2 ngày lên 3,5 ngày/du khách và nâng tỷ lệ khách quay lại lần 2 vượt mức 35% trong giai đoạn 2020 - 2025. Chủ thể thực hiện: Sở Du lịch chủ trì, phối hợp với Sở Công Thương và Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  • Chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch: Tổ chức các chương trình đào tạo định kỳ về kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ, thái độ phục vụ chuyên nghiệp và văn hóa bản địa cho 100% đội ngũ nhân viên trực tiếp lẫn gián tiếp tại 689 cơ sở lưu trú và các đơn vị lữ hành. Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng phối hợp cùng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch.
  • Tăng cường quản lý môi trường và phát triển du lịch sinh thái bền vững: Thiết lập hệ thống kiểm soát xả thải nghiêm ngặt tại các bãi biển du lịch, bảo tồn nguyên vẹn 400ha rừng nguyên sinh bán đảo Sơn Trà và cảnh quan khu danh thắng Ngũ Hành Sơn. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng cùng cộng đồng dân cư địa phương.
  • Đẩy mạnh tiếp thị số và tối ưu hóa hạ tầng kết nối thông minh: Triển khai nền tảng du lịch thông minh, số hóa bản đồ du lịch đa ngôn ngữ và nâng cấp hệ thống giao thông công cộng kết nối sân bay - trung tâm thành phố - Hội An, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đón từ 8,9 đến 9,35 triệu lượt khách, đạt doanh thu 36.400 tỷ đồng và đóng góp 25% vào GRDP thành phố. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Xúc tiến Du lịch Đà Nẵng và Sở Giao thông Vận tải.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng các cơ quan ban ngành có thể sử dụng bộ 46 tiêu chí đo lường của luận văn làm khung tham chiếu khoa học để đánh giá định kỳ chất lượng điểm đến, hoạch định quy hoạch không gian 28.821 phòng lưu trú và xây dựng Đề án phát triển du lịch Đà Nẵng tầm nhìn đến năm 2035.
  • Ban lãnh đạo các doanh nghiệp du lịch, khách sạn và lữ hành: Các nhà quản trị có thể áp dụng mô hình khoảng cách chất lượng để nhận diện chính xác điểm nghẽn trong khâu phục vụ khách hàng, từ đó tái cấu trúc sản phẩm tour, tối ưu hóa giá dịch vụ và cải thiện tỷ lệ khách hàng trung thành vượt mức 20,1%.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản trị kinh doanh, Du lịch học: Đề tài là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích SPSS 20.0 trên quy mô 300 mẫu khảo sát thực tế, minh họa rõ nét cách vận dụng mô hình Srabanti (2017) vào bối cảnh kinh tế Việt Nam.
  • Chuyên gia tư vấn chiến lược và phát triển điểm đến địa phương: Cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm và phương pháp luận đáng tin cậy để so sánh, đối chuẩn và nhân rộng mô hình đánh giá chất lượng điểm đến cho các đô thị du lịch biển khác trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

  • Mô hình lý thuyết nào được áp dụng làm nòng cốt trong nghiên cứu này? Nghiên cứu vận dụng mô hình đo lường toàn diện của Srabanti Mukherjee, Atanu Adhikari và Biplab Datta (2017) kết hợp khung quản lý điểm đến của UNWTO (2007, 2016), cấu trúc chất lượng điểm đến thành 3 phương diện chính: chất lượng dịch vụ, chất lượng trải nghiệm và chất lượng đặc trưng điểm đến với 46 biến quan sát được hiệu chỉnh qua nghiên cứu định tính.

  • Quy mô mẫu 300 du khách có đảm bảo độ tin cậy thống kê không? Quy mô 300 phiếu khảo sát hợp lệ hoàn toàn đáp ứng và vượt tiêu chuẩn kiểm định thống kê. Theo nguyên tắc của Hair và cộng sự (2010), kích thước mẫu tối thiểu cần gấp 5 lần số lượng biến phân tích (46 biến x 5 = 230 mẫu), do đó 300 mẫu đảm bảo độ tin cậy cao cho phân tích Cronbach's Alpha và EFA trên SPSS 20.0.

  • Đâu là hạn chế lớn nhất của du lịch Đà Nẵng được chỉ ra từ số liệu khảo sát? Hạn chế lớn nhất là thời gian lưu trú ngắn (khoảng 2 ngày/người), tỷ lệ quay lại lần 3 chỉ đạt 13,8% và mức chi tiêu chưa tương xứng với quy mô 28.821 phòng lưu trú, nguyên nhân chủ yếu do thiếu vắng các sản phẩm giải trí về đêm, khu mua sắm cao cấp và dịch vụ trải nghiệm trong nhà.

  • Doanh nghiệp khách sạn tại Đà Nẵng có thể ứng dụng kết quả này như thế nào? Doanh nghiệp có thể sử dụng các biến thành phần thuộc nhóm chất lượng dịch vụ và lưu trú để chuẩn hóa quy trình đón tiếp, đào tạo kỹ năng ngoại ngữ cho nhân viên và tích hợp các gói trải nghiệm ẩm thực, văn hóa địa phương nhằm gia tăng mức độ hài lòng của 66,1% du khách lần đầu đến thăm.

  • Thang đo trong luận văn có thể áp dụng cho các điểm đến du lịch khác tại Việt Nam không? Bộ thang đo 46 biến hoàn toàn có thể chuyển giao và ứng dụng cho các địa phương du lịch biển tương đồng như Nha Trang, Phú Quốc hay Quy Nhơn, chỉ cần thực hiện bước nghiên cứu định tính sơ bộ để điều chỉnh các biến đặc thù cảnh quan sông, núi và văn hóa cho phù hợp.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về chất lượng điểm đến du lịch thông qua việc chuẩn hóa thang đo 46 biến quan sát từ mô hình Srabanti và cộng sự (2017).
  • Đánh giá thực nghiệm khách quan nhận thức của 300 du khách nội địa, khẳng định thế mạnh vượt trội về an ninh, bãi biển và lòng hiếu khách của thành phố Đà Nẵng.
  • Xác định chính xác điểm nghẽn chiến lược về dịch vụ giải trí đêm khiến thời gian lưu trú bình quân dừng lại ở mức 2 ngày và tỷ lệ khách quay lại lần ba chỉ đạt 13,8%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình phát triển kinh tế đêm, chuẩn hóa 689 cơ sở lưu trú và hướng tới mục tiêu đón 9,35 triệu lượt khách, đạt doanh thu 36.400 tỷ đồng vào năm 2020.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học giá trị cao cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp lữ hành và giới nghiên cứu học thuật quản trị kinh doanh du lịch.