mở đầu và theo sau các hành động, nay (DeVries, 1996). Bén canh đó, các yếu tố xã hội, các yếu tố tâm lý, tiếp thị và các đặc điểm của người tiêu dùng cũng là những nhân tố rất quan trong 12 để nghiên cứu các ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng (Kotler, 1994, Hogg & Lewis, nd). Trong bài luận văn này, khái niệm hành vi người tiêu dùng được hiểu là tắt cả các hoạt động liên quan đến quyết định mua hàng, sử dụng và ngưng sử dụng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng dưới tác động của các yếu tố ảnh hưởng bên trong và bên ngoài. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Theo Phillip Kotler [16], hành vi của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi 4 yếu tố chính là: a.
Yếu tố mang tính chất xã hội e. Yếu tố mang tính chất cá nhân d. Yếu tố mang tính chất tâm lý 1. Tiến trình quyết định mua của người tiêu ding Theo Phillip Kotler [16] hành vi người tiêu dùng được mô tả qua các giai đoạn sau: ~ Nhận thức nhu cầu: Là giai đoạn đầu tiên của quá trình mua hàng, khi người tiêu dùng nhận thức được các vấ các nhu cầu đối với sản phẩm hay dịch vụ.
~— Tìm kiếm thông tin: người tiêu dùng có thê biết về sản phẩm qua các nguồn thông tin như: Nguồn thông tin cá nhân, nguồn thông tin phổ thông, nguồn thông tin thương mại hay từ kinh nghiệm bản thân. — Đánh giá các phương án: Người tiêu dùng sẽ dùng những thông tin có. sẵn để đánh giá các phương án phục vụ cho việc lựa chọn cuối cùng. ~ Quyết định mua: Sau khi đánh giá các phương án người tiêu dùng sẽ chọn những sản phẩm mà họ cho là tốt nhất.
Họ sẽ mua ở đâu? Số lượng mua bao nhiêu? Chủng loại như thế nào? 13 ~ Hành vi sau mua: Hành vi của người tiêu dùng đối với việc có sử dụng hay không sử dụng sản phẩm trong tương lai. Như vậy, bản chất mô hình Phillip Kotler dura ra cũng chính là quá trình quyết định mua của người tiêu dùng. "hận biết “Tìm kiếm | cà, van de thông tin. Hành vi tiêu dùng theo mô hình Phillip Kotler 1.
Kiều hối và dịch vụ kiều hối a. Khái niệm kiều hối Kiều hối là số tiền ngoại tệ do người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài gửi về cho gia đình và người thân ở Việt Nam. [2] Kiều hối đang góp phần tạo thêm những nguồn lực đáng kể cho nền kinh tế đất nước, giúp giảm bớt sự mất cân đối trong cán cân thanh toán, cải thiện dự trữ ngoại hồi, giảm sức ép tăng tỷ giá. Với tình hình người dân sang nước học tập và làm việc ngày càng nhiều như hiện nay thì theo ước tính Việt Nam là nước xếp thứ 10 trên thế giới nằm trong top nước nhận tiền kiều hồi nhất thế giới.
Dịch vụ kiều hồi Dịch vụ kiều hồi bao gồm: (1) Dịch vụ chuyển tiền kiều hối và (2) Dịch vụ nhận tiền kiều hối. - Dịch vụ chuyển tiền kiều hồi: Dịch vụ chuyển tiền kiều hối là dịch vụ do các tổ chức chấp nhận giao dịch kiều hối cung cấp cho khách hàng là 14 những người sinh sóng, làm việc tại quốc gia khác làm thủ tục gửi tiền về Việt Nam cho người nhận tại nước nhà. [2] ~ Dịch vụ nhận tiền kiêu hối: Dịch vụ nhận tiền kiều hối đó là dịch vụ do các ngân hàng, tổ chức tài chính cung cấp cho khách hàng để đối tượng thụ hưởng có thể đến ngân hàng nhận tiền kiều hối. Khi gửi tiền, người gửi sẽ điền thông tin số tài khoản người gửi và ngân hàng sẽ trực tiếp gửi tiền vào số tài khoản của bạn.
Bạn có thể rút tiền thông qua kênh Online - Internet Banking bing cach mở tài khoản tại các ngân hàng và điền thông tin mã số nhận tiền trên kênh Internet Banking. Ngoài ra cũng có thể nhận tiền mặt tại quay giao dich của ngân hàng thụ hưởng. Bạn cần cung cấp thông tin cá nhân và địa chỉ cũng như xuất trình chứng minh nhân dân để được nhận tiền. Các hình thức chuyển tiền kiều hối về Việt Nam: Người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài được chuyển tiền kiề hối về Việt Nam dưới các hình thức sau: s Chuyển ngoại tệ thông qua các tổ chức tín dụng được phép: © Chuyển ngoại tệ thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc tế; s Cá nhân mang theo người vào Việt Nam.
Tầm quan trọng của nghiên cứu hành vi tiêu dùng trong hoạt động kiều hối của các ngân hàng |4] a. Giúp ngân hàng có thể cạnh tranh hiệu quả với các đối thủ cạnh tranh. Để triển khai được các sản phẩm mới và để xây dựng các chiến lược marketing kích thích khách hàng sử dụng dịch vụ, các doanh nghiệp phải nghiên cứu HVKH. Kiến thức và sự hiểu biết về khách hàng còn giúp ngân hàng xây dựng.
và triển khai các chiến lược marketing nhằm gây ảnh hưởng, tác động trở lại khách hàng. Sự hiểu về Hành vi khách hàng liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi khách hàng và điều chỉnh các chính sách liên quan đến hoạt động marketing. CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU HÀNH VI TIÊU DÙNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Martin Fishbein va Icek Ajzen xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở.
rộng theo thời gian. Mô hình TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Để quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng. Đo lường niềm tin Thái độ đối với những thuộc tính.
của sản phẩm Xuhướng |_ ,| Hànhvi Niềm tỉn vẻ những người hành vỉ thực sự ảnh hướng sẽ nghĩ răng tôi nên hay không nên v mua sin phim Sự thúc đây lam theo ý muến của những người ánh hưởng. Mô hình Hành động hợp lý TRA 16 Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức vẻ thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng.
Yếu tố chuẩn chủ quan được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghié người này thích hay không thích họ mua. Mức độ tác động của y chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) Mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người lêu dùng và (2) Động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Hạn chế của mô hình này là xuất phát từ giả định rằng hành vi là dưới sự kiểm soát của ý chí. Do đó, lý thuyết này chỉ áp dụng đối với hành vi có ý thức đã nghĩ ra trước đó.
Quyết định hành vi không hợp lý, hành động theo thói quen hoặc hành vi thực sự được coi là không ý thức, không thể được giải thích bởi lý thuyết này. Đó cũng là lý do tại sao có sự ra đời của lý thuyết hành vi dự định (TPB). Sự hữu ích cảm nhận Thái độ Ý định “Thói quen sir sirdyng [-—>| >] dung ng dụng cảm. Nguén: Davis (1985) Hình 1.
Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 17 Dựa trên lý thuyết về hành động hợp lý (TRA), tác giả Fred D. Davis (1985) lần đầu tiên đưa ra Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) để giải thích cho việc chấp nhận sử dụng công nghệ mới, giải pháp mới của con người. Trong TAM, có hai yếu tố quyết định đến việc một người khách hàng sẽ chấp nhận sử dụng 01 sản phẩm (công nghệ) mới đó là: (1) Tính dễ sử dụng và (2) Tính hữu ích được cảm nhận. Mức độ hữu ích được cảm nhận là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một sản phẩm, dịch vụ mới cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc hoặc.
cuộc sống của họ. Mức độ dễ sử dụng được cảm nhận là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng các sản phẩm, giải pháp đó sẽ không tốn nhiều công sức. Tính đễ sử dụng và tính hữu ích được cảm nhận ảnh hưởng tích cực. đến thái độ đối với hệ thống thông tin; và hơn nữa, ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng và chấp nhận hệ thống thông tin của các cá nhân.
Ngoài ra, tính dễ sử dụng được cảm nhận ảnh hưởng tích cực đến tính hữu ích được cảm nhận, và cả tính dễ sử dụng được cảm nhận và tính hữu ích được cảm nhận đều bị ảnh hưởng bởi các biến số bên ngoài. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Dựa trên cơ sở Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior: TPB), Taylor va Todd (1995) da tiến hành bổ sung, chỉnh sửa mô hình TAM ban đầu của Davis (1985) nhằm cung cấp hướng dẫn cụ thể để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng/mua sản phẩm công nghệ, giải pháp hữu ích của con người và được gọi là Mô hình chấp nhận công nghệ mở rộng (Extended TAM), hay còn gọi là TAM2. 18 Chuẩn chủ quan Nguén: Taylor và Todd (1995) Hình 1. Mô hình TAM 2 (Extended TAM) Trong mô hình TAM2 này, các tác giả thừa nhận cả hai quá trình nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng đều chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội (chuẩn mực chủ quan, sự tự nguyện và hình ảnh) cũng như chịu ảnh hưởng bởi các quá trình và công cụ nhận thức (mức độ liên quan đến công việc, chất lượng đầu ra, khả năng thể hiện kết quả và tính dễ sử dụng).
phát hiện này nâng cao lý thuyết và đóng góp vào nền tảng cho các nghiên cứu trong tương lai nhằm nâng cao hiểu biết của chúng ta về hành vi chấp nhận của người dùng. Lý thuyết khuếch tán đổi mới (IDT) Rogers, E. (1995) đã đưa ra Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Innovations Diffusion Theory: IDT) để giải thích quá trình chấp nhận các ý tưởng mới, công nghệ mới, giải pháp mới của người sử dụng. Theo Agarwal (2000) thì Lý thuyết IDT lập luận rằng “người dùng tiềm năng đưa ra quyết 19 định áp dụng hoặc từ chối một sự đổi mới dựa trên niêm tin mà họ hình thành về sự đổi mới”.