Chương 1: Cơ sở lý thuyết ~ Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu - Chương 4: Đề xuất giải pháp và kiến nghị 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu a. Các nghiên cứu trong nước Theo Đào Thị Thu Hường (2016) [3], tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP. Đà Nẵng của khách du lịch nội địa.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng của khách du lịch nội địa thông qua phương pháp phân tích các nhân tố khám phá EFA kết hợp với việc sử dụng lý thuyết về động cơ kéo và động cơ đẩy. Qua phân tích hồi quy, có 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại của du khách theo thứ tự tự thấp đến cao là: Kinh nghiệm quá khứ, Đông cơ kéo, Giá trị cảm nhận, Thái độ, Nhận thức kiểm soát hành vi. Như vậy, nhận thức kiểm soát hành vi là nhân tố quan trọng nhất có tác động đến quyết định quay lại của khách nội địa đối với điểm đến TP. Theo Nguyễn Thị Minh Phương (2017) [16], tác giả đã nghiên cứu các ó ảnh hưởng đến ý định quay trở lại điểm đến thành phó Hồ Chí Minh của khách du lịch quốc.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại điểm đến thành phố lồ Chí Minh của khách du lịch quốc tế thông qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy đa biến, cho thấy kết quả rằng có bồn yếu tố tác động đến ý định quay lại điểm đến của du khách lần lượt là Các hoạt động vui chơi giải trí, Môi trường tự nhiên-xã hội, Âm thực địa phương và Sự tiếp cận. Như vậy, Các hoạt động vui chơi giải trí đóng vai trò quan trọng tác động đến ý định quay trở lại của du khách. Theo Huỳnh Nhật Phương và Nguyễn Thuý An (2017) [13], các tác giả đã nghiên cứu phân tích các yếu tố của điểm đến du lịch tác động đến ý định trở lại của du khách - Trường hợp du khách đến thành phố Cần Thơ. Bằng việc sử dụng các phương pháp phân tích nhân tố khăng định (CFA), mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) và phương pháp ước lượng bootstrap, từ đó cho.
thấy mối quan hệ thuận chiều giữa thái độ và yếu tố cơ sở vật chất tại điểm đến đối với ý định quay lại của du khách. Như vậy, yếu tố cơ sở vật chất có vai trò quan trọng tác động đến ý định trở lại của du khách đối với êm đến thành phố Cần Thơ. Theo Trần Phan Đoan Khánh, Nghuyễn Lê Thùy Liên (2020) [6], các tác giả đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại của du khách tại điểm đến du lịch Tiền Giang. Trong nghiên cứu này, mối quan hệ nhân quả giữa hình ảnh điểm đến, chất lượng cảm nhận, giá trị cảm nhận, sự hài lòng điểm đến và ý định quay trở lại của khách du lịch tại Tiền Giang đã được các tác giả làm rõ.
Thông qua phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình cấu tric tuyén tinh — SEM, kết quả cho thấy mức độ hài lòng của khách hàng có hệ số cao nhất, tiếp theo đó là hình ảnh điểm đến, còn giả thuyết về chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận chỉ có ảnh hưởng đến mức độ hài lòng. chứ không ảnh hưởng trực tiếp đến ý định quay lại của du khách. Ngoài ra, các yết đặc điểm tự nhiên, an ninh an toàn và cơ sở hạ tầng và giải trí có ảnh hưởng đến hình ảnh điểm , qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch Tiền Giang. Như vậy, yếu tố sự hài lòng có ảnh hưởng đáng kể đến ý định quay trở lại của khách du lịch đối với điểm đến du lịch Tiền Giang.
Theo Nguyễn Thị Lệ Hương (2019) [4], tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến du lịch Huế tới ý định quay trở lại của du khách. Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ của hình ảnh điểm đến và mức độ ảnh hưởng của các thành phân tới ý định trở lại của du khách, trong đó hình ảnh điểm đến được xem xét trong mối quan hệ đa chiều bao gồm Hình ảnh nhận thức và Hình ảnh tình cảm, đây là 2 yếu tố tạo nên Hình ảnh tổng thể cho điểm đến du lịch. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) kết hợp với phương pháp định tính, cho thấy mối quan hệ cùng chiều và tích cực của hình ảnh điểm đến du lịch Huế tới ý định quay trở lại của du khách. Các nghiên cứu nước ngoài Theo XT Nguyen (2020) [96], tác giả đã nghiên cứu Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định trở lại Hàn Quốc của du khách Việt Nam (Factors That Influence the Intentions to Revisit Korea of Vietnamese Tourists).
Nghiên cứu nhằm chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến ý định ghé thăm lại Hàn Quốc của khách du lịch Việt Nam. Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp cả hai phương pháp định tính và phương pháp định lượng, cho thấy kết quả là hình ảnh điểm đề „ chất lượng dịch vụ, cảm nhận sự tương hợp và làn sóng Hallyu (hay Hàn lưu: là sự gia tăng phổ biến toàn cầu của văn hóa Hàn Quốc từ thập niên 1980, được thúc đây bởi sự phô biến của K-Drama và K-Pop) có ảnh hưởng đến ý định quay lại của du khách. Theo Endang Sulistya Rini, Yeni Absah, Beby Karina Fawzeea Sembiring, Muhammad Dharma Tuah Putra Nasution (2021) [36], cdc tác giả đã nghiên cứu ý định ghé thăm lại các điểm du lịch ở Indonesia (Intention to. revisit tourist destinations ïn Indonesia).
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã kiểm tra ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến, giá trị trải nghiệm và su hai long đối với ý định quay lại của du khách. Bằng phương pháp phân tích kết hợp, các tác giả đã xác định mối quan hệ giữa các biến và cho kết quả rằng hình ảnh điểm đến có tác động tích cực và đáng kể đến sự hài lòng về trải nghiệm, từ đó gián tiếp ảnh hưởng một cách tích cực đến ý định ghé thăm lại điểm đến du lịch của du khách. Theo Barkah, Puty Febriasari (2021) [21], các tác giả đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay lại của khách du lịch (Factors that Influencing Tourists Revisit Intention). Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xác định ảnh hưởng của các yếu tố các yếu tố hình ảnh điểm đến, chất lượng trải nghiệm và tìm kiếm sự mới lạ đến sự hài lòng và ý định quay lại của khách du lịch.
Thông qua việc sử dụng phương pháp phi tham số SEM-PLS, kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng và ý định quay trở lại của du khách bị ảnh hưởng bởi chất lượng trải nghiệm du lịch và hình ảnh điểm đến. CO SO LY THUYET 1.1 CAC KHAI NIEM LIEN QUAN 1.1 Du lich Du lịch là một dạng hoạt động xuất hiện từ rất sớm trong đời sống, phản ánh nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của con người. Xã hội ngày càng phát triển và nhu cầu đi du lịch của con người cũng ngày càng tăng cao. Du lịch được hiểu là khi một người đi du lịch và ở lại những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tục cho giải trí và không ít hơn 24 giờ I] Các hình thức du lịch có thể được kể đến là: Du lịch nghỉ dưỡng; du lịch sinh thái; du lịch văn hóa, lịch sử; du lịch tham quan, khám phá & trải nghiệm; du lịch kết hợp Team Builiding [7].2 Khách du lịch a.
Khái niệm Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến [8]. Phân loại khách du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, khách du lịch gồm có khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. eKhách dụ lịch quốc tế: là một người ra khỏi quốc gia đang sinh sống, trong thời gian ít nhất 24h và không quá 12 tháng liền tục với mục đích không phải là làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến «Khách du lịch nợi địa: là một người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó với thời gian ít nhất 24h và không quá 12 tháng liên tục với mục đích khổng phải là làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.3 Điểm đến du lịch Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cắp, các tài nguyên du lich thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh đề xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường [94]. Cho dén nay, ‘diém đến du lịch" chỉ đang được hiểu là điểm đến cho hoạt động rời khỏi nơi cư trú để di chuyển đến nơi khác nhằm mục đích tham quan, nghỉ dưỡng,.của khách du lịch.
Khái niệm về êm đến du lịch là phạm trù rất rộng và khó để định nghĩa rõ ràng.2 LY THUYET LIEN QUAN 1.1 Hành vi tiêu dùng, a. Khái niệm hành vi tiêu dùng Hành vi tiêu dùng được định nghĩa là một quá trình, thông qua các yếu tố đầu vào và việc sử dụng chúng, dẫn đến sự thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn [37]. Hanh vi của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bao gồm: văn hóa (nền văn hóa, nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội), xã hội (nhóm người tham khảo, gia đình, vai trò, địa vị), cá nhân (tuổ , giai đoạn của chu kì, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế ¡ sống) và tâm lý (động cơ, nhận thức, hiểu biết, niềm tin và thái độ) [5Š] b. Các lý thuyết về hành vi tiêu dùng Lý thuyết hành động hợp lý (Theory oƒ Reasoned Aetion_ TRA hay ToRA) Lý thuyết về hành động hợp lý được phát triển bởi Martin Fishbein va Ieed AjZen vào năm 1967.
Lý thuyết này giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người, chủ yếu được sử dụng đề dự đoán cách các cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước 12 của họ. Theo lý thuyết, ý định thực hiện một hành vi nhất định sẽ có trước hành vi thực tế.