Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu Chuong 4: Két luận, hạn chế và đề xuất nghiên cứu trong tương lai 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa đến tỉnh thần kinh doanh A. Nghiên cứu về văn hóa ảnh hưởng tỉnh thần kinh doanh/tinh thần khởi nghiệp Có nhiều cách tiếp cận và đã có các công trình nghiên cứu về sự ảnh. hưởng của văn hóa đến TTKD như: Mô hình miêu tả mối quan hệ giữa văn hóa và ĐHKD trong mối liên hệ với TTKD và cạnh tranh toàn cầu trong bài báo “Văn hóa, định hướng kinh doanh, và cạnh tranh toàn câu” duge in trong tap chi World Business sé 35(4)/2000 của nhóm tác giả Sang M.
Lee và Suzanne J. Peterson đã thừa nhận những tính cách, hành vi cá nhân theo 5 giá trị chiều hướng văn hóa quốc gia (KCQL, né tránh rủi ro, CNCN, nam tính, thành tích và chủ nghĩa phổ độ) cùng với sự tác động của điều kiện môi trường ảnh hưởng đến khuynh hướng kinh doanh. Từ đó ảnh hưởng đến TTKD của doanh nhân và TTKD sẽ quyết định đến sự cạnh tranh toàn cầu. Mô hình mô tả về sự tác động trực tiếp của văn hóa đến TTKD như mô hình về thực tại văn hóa ở Kamba và mong muốn thay đổi trong tương lai nhằm thúc đẩy TTKD của Henry M.
Bwisa, Johnson Muthoka Ndolo trong bai bao “Culture as a Factor in Entrepreneurship Development: A Case Study of the Kamba Culture of Kenya” và mô hình về văn hóa hiện nay ở Iran va những thay đổi trong tương lai phải được thực hiện để phát triển TTKD của Mehdi Abzari and Ali Safari trong bài bio “The Role of Culture on Entrepreneurship Development (Case study: Iran)”. Ảnh hưởng văn hóa và giới tính đến tinh than kinh doanh/tinh thần khởi nghiệp Ngày nay, LLLĐ nữ trong xã hội tăng lên và tỷ lệ nữ giới giữ vị trí lãnh đạo cũng tăng lên góp phần làm tăng thêm HĐKD của nữ giới. Nghiên cứu về nữ doanh nhân đang tăng lên nhanh chóng. Một số công trình nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng văn hóa và giới tính đến tỉnh thần kinh doanh/tinh thần khởi nghiệp như: Bài báo “Culture as a barrier to rural women's entrepreneurship: Experience from Zimbabwe” in trong tap chi Gender and Development cia tác giả Colletah Chitsike cung cắp phân tích giới cho thấy rằng phụ nữ chỉ có thể tự tin và tự chủ trong hoạt động kinh tế của họ nếu không có cản trở từ văn hóa.
Nữ doanh nhân ở Zimbabwe thiếu kinh nghiệm lãnh đạo và chỉ huy. Bài báo tập trung phân tích và phát triển các kỹ năng cần thiết doanh nhân nữ đặc biệt là kỹ năng trao quyền cho cá nhân: sự quyết đoán; kỹ năng đàm phán và cân bằng công việc giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình; kỹ năng quản lý thời gian; và tự nhận thức. Ngoài ra, tập trung vào giáo dục cho nam giới để họ phát triển nhận thức về tác động hành vi của họ đối với phụ nữ. Tac gid Mulugeta Chane Wube (2010) trong “factors affecting the performance of women entrepreneurs in micro and small enterprises (The case oƒ Dessie Town)” kết luận các đặc tính của nữ doanh nhân trong các DNVVN 6 thị trấn Dessie cho thấy rằng họ không có nền tảng gia đình kinh doanh, họ có tinh thần kinh doanh như là một phương sách cuối cùng.
Các phụ nữ ở thị trấn này ít có tinh thần kinh doanh là do cản trở bởi rào cản văn hóa xã hội, tiếp cận đào tạo, tài chính, thị trường và tiếp cận mạng lưới. CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU NGHIEN CUU 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VE VAN HOA 1. Các định nghĩa về văn hóa Van hóa là một lĩnh vực thu hút nhiều nhà nghiên cứu và có rất nhiều định nghĩa.
Theo Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội " [6, tr. Và định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới là của Hofstede (1997): “văn hóa là tập hợp những quan niệm, giá trị, niềm tin làm cho thành viên của một nhóm người này khác với nhóm người khác”. Như vậy với các định nghĩa trên, tác giả hiểu: Văn hóa là tập hợp những đặc trưng về giá trị, tri thức, niềm tin, lối sống của con người trong một xã hội cụ thể và nó mang tính kế thừa từ thể hệ trước. Các yếu tố cấu thành văn hóa Như đã đề cập ở trên về khái niệm văn hóa.
Văn hóa là một khái niệm rất rộng nên xét đến các yếu tố cấu thành văn hóa cũng tùy thuộc vào các khía cạnh khác nhau về văn hóa. Với nhận định khái niệm văn hóa được nêu trên, tác giả hệ thống hóa những thành tố cấu thành nên văn hóa như sau: Cấu trúc xã hội: Cấu trúc xã hội là khuôn khổ tổng thể mà xác định vai trò của các cá nhân trong xã hội, sự phê chuẩn của xã hội, và tính di động của các cá nhân trong xã hội [32, tr. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ là một hề thống tín hiệu. Trong sự phát triển của.
văn hóa, ngôn ngữ bao giờ cũng là một công cụ, một phương tiện có tác động. nhạy cảm nhất [§, tr.76] Tôn giáo: Tôn giáo định hình thái độ môn đồ của nó đối với công việc, tiêu dùng, trách nhiệm cá nhân, và lập kế hoạch cho tương lai [32, tr. Tín ngưỡng: Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người [8, tr. Lễ hội: Là những sinh hoạt của người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ một mùa màng đã qua, vừa cầu xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới [§, tr.
Giá trị và thái độ: Giá trị là những nguyên tắc và tiêu chuẩn được. chấp nhận bởi các thành viên; thái độ bao gồm các hành động, cảm xúc và những suy nghĩ là kết quả từ những giá trị [32, tr. Vai trò, các đặc điểm văn hóa đối với sự phát triển của quốc gia a. Các giá trị văn hóa Nghiên cứu về văn hóa rất đa dạng, văn hóa thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, với phạm vi đề ày, tác giả đề cập đến khía cạnh những giá trị văn hóa dùng để nghiên cứu trong kinh doanh. Các học giả đã nhận diện một số khía cạnh văn hóa khác nhau nhằm phân biệt văn hóa giữa các quốc gia. Theo nghiên cứu của Hofstede có các chiều hướng văn hóa phổ biến như: Khoảng cách quyền lực: Chiều văn hóa này liên quan đến mức độ bình đẳng/bắt bình đẳng giữa người với người trong một xã hội bất kỳ nào đó [36]. Một quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn sẽ chấp nhận và kéo dài sự bất bình đẳng, có sự phân chia đẳng cấp rõ ràng, người dân phải phục tùng lãnh đạo, nhân viên luôn làm theo sự hướng dẫn cấp trên, học sinh nghe theo lời thầy cô chứ không có ý kiến cá nhân và con cái không được cãi lời cha mẹ.
Ngược lại, với quốc gia có khoảng cách quyền lực thấp sẽ tôn trọng sự bình đẳng, mọi người có quyền đưa ra ý kị cá nhân, thắng thắn nêu lên suy nghĩ của mình (xem bảng 1. Mười sự khác nhau giữa khoảng cách quyền lực nhỏ và lớn Khoảng cách quyền lực nhỏ. Khoảng cách quyền lực lớn Sử dụng quyên lực cân phải hợp pháp và Quyên lực là một thực tê cơ bản của xã phải tuân theo chuẩn mực của thiện và ác. hội tốt hay xấu trước đó: tính hợp pháp của nó là không thích hợp, Cha mẹ đổi xử ngang bằng với con cái.
Cha me day con vâng lời. Những người già không được tôn trọng và Những người già đều được tôn trọng và cũng không có quyền lực. Giáo dục học sinh làm trung tâm. Đào tạo giáo viên làm trung tâm.
Hệ thống phân cấp có nghĩa là bất bình Hệ thống phân cấp có nghĩa là bất bình đẳng xuất hiện do các quy tắc được thiết đẳng hiện sinh. lập cho sự tiện lợi. Cấp dưới mong đợi để được tư vẫn. Cấp dưới mong đợi đề được bảo phải làm gi Chính phù đa nguyên dựa trên đa số phiêu Các chính phủ độc đoán dựa trên kết nap và thay đổi một cách hòa bình và thay đổi bởi cuộc cách mạng.
Tham nhũng hiểm; vụ bê bỗi chính trị kết Tham nhũng thường xuyên; vụ bê bối thúc sự nghiệp đang bao phủ lên. Phân phôi thu nhập trong xã hội một cách Phân phối thu nhập trong xã hội rất sòng phẳng. không đồng đều. Tôn giáo nhân mạnh sự bình đăng của các Tôn giáo với một hệ thông phân cấp của tín hữu.9]) Né tránh sự không chắc chắn: Chiều văn hóa này nói lên mức độ sẵn sàng chấp nhận những thay đổi, những điều mới mẻ của một cộng đồng [36] Một quốc gia có điểm số cao về né tránh sự không chắc chắn sẽ không sẵn sàng chấp nhận những điều mới lạ, những thay đổi mà họ chưa từng trải nghiệm.
Kết quả là những xã hội như thế thường sống theo truyền thống, các luật định và suy nghĩ, luôn trong tư thế bỏ qua những điều mơ hồ, không rõ ràng và sống trong sự lo âu. Như vậy, các tư tưởng mới thường khó xâm nhập. vào quốc gia có điểm số né tránh sự không chắc chắn cao. Đối với quốc gia có điểm số thấp về né tránh sự không chắc chắn xem rủi ro, bất thường là vấn đề hiển nhiên cần phải đối mặt.
Họ sẵn sàng chấp nhận thay đổi và thử nghiệm. Trong xã hội như thé, các giá trị được coi là truyền thống sẽ thay đôi thường xuyên, và ít gò bó bởi các luật định trước (xem bảng 1. Mười sự khác nhau giữa né tránh không chắc chắn yếu và mạnh Ít né tránh điều không chắc chắn Né tránh sự không chắc chắn nhiều Sự không chắc chắn vốn có trong cuộc Sự không chắc chắn vốn có trong cuộc. sống được chấp nhận (mỗi ngày là cần sống được cảm nhận như là một mối đe thiết vì nó luôn đi kèm).
doa liên tục cần phải dau tranh. Bình thản, stress thấp hơn, tự chủ, lo âu Stress cao hơn, hay xúc động, lo âu, loạn thấp. Điểm số cao hơn về sức khỏe và hạnh Điêm sô thập hơn về sức khỏe và hạnh phúc chủ quan. phúc chủ quan.
Khoan dung với người khác và có tư Không khoan dung cho người khác và có tưởng: những gì khác nhau là tò mò. tư tưởng: những gì khác nhau là nguy hiểm Thoải mái với sự mơ hỗ và hỗn loạn.