CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này sẽ trình bày tắt cả các cơ sở lý thuyết có liên quan đến đê tài, trọng tâm là các mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ truyền hình. KHÁI QUAT VE TRUYEN HINH 1. Khái niệm truyền hình Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh va tiếng Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ *Tele” có nghĩa là "ở xa" còn *videre” là "thấy được", còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa.
Ghép hai từ đó lai *Televidere” có nghĩa là xem được ở xa. Tiếng Anh là *Television”, tiếng Pháp là "Television”, tiếng Nga gọi là "Teaesrraenre”. Như vậy, dù có phát triển bắt cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa. Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tôc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trong trong đời sống xã hội.
Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác.
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông. đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về 7 chất lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tỉnh. Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung.
Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV). Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) va truyén hinh thuong mai (commercial TV). Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí. Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương.
Truyền hình trả tiền Sau một thời gian dài chuyên được xem truyền hình miễn phí, giữa năm 1990, truyền hình trả tiền ra đời và phát triển mạnh sau những năm 2000. “Tính đến thời điểm cuối năm 2013 đã có 30 đơn vị truyền hình và hơn 6 triệu thuê bao trên cả nước. Sự xuất hiện ngày càng nhiều đơn vị truyền hình thu phí đã khiến cho. thị phần này càng trở nên cạnh tranh gay gắt.
Truyền hình trả tiền ngày càng phát triển, đúng với xu thế chung của thế giới. Truyền hình trả tiềi là hình thức xem truyền hình có thu phí, dưới dạng thuê bao hàng tháng. Truyền hình có khả năng đáp ứng việc truyền dẫn nhiều kênh truyền hình tới hộ gia đình, tới các thành phần xã hội và cung cắp nhiều dịch vụ gia tăng khác. "Truyền hình trả tiền sẽ ngày càng trở thành sự lựa chọn của người xem.
truyền hình do lợi thế ê tính đa dạng của nội dung, hiệu quả của dịch vụ, hiện đại của kỹ thuật công nghệ và tỷ trọng người xem truyền hình trả s $& ngày càng lớn hơn người xem truyền hình quảng bá. Khi xây dựng quy chế về quản lý hoạt động truyền hình trả tiền, Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) đã nhận định như vậy. § v⁄ Truyền hình trả tiền được chia ra làm 3 loại chính: ~ Truyền hình số ( disital): Truyền hình số có nhiều ưu điểm như độ nét cao (HD), âm thanh số 5.1, loại bỏ hoàn toàn hiện tượng muỗi, nhiễu ở truyền hình analog. Được chia làm 2 loại truyền hình số mặt đất và truyền hình số vệ tỉnh.
Có 3 nhà đài khai thác truyền hình số trả tiền đó là: ® Truyền Hình An Viên AVG ( Công ty cổ phần nghe nhìn toàn cầu thuộc tập đoàn An Viên Groups) ® _ VTC ( Công ty truyền thông đa phương tiện) ®- K+( Công ty TNHH truyền hình số vệ tỉnh Việt Nam) - Truyền hình cáp: Có mặt lâu nhất trên thì trường truyền hình trả tiền và có số lượng khách hàng lớn nhất, Tuy nhiên truyền hính cable analog lại đang biểu lộ quá nhiều nhược điềm, và đang bị truyền hình số dần thay thế - Truyén hinh IP: IPTV - Internet Protocol TV - là mạng truyền hình kết hợp chặt chẽ với mạng viễn thông. Nói rộng hơn IPTV là dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng mạng băng rộng IP phục vụ cho nhiều người dùng (user). Các user có thể thông qua máy vi tính PC hoặc máy thu hình phổ thông cộng với hộp phối ghép set topbox để sử dụng dịch vụ IPTV. Ở Việt Nam có MyTV (VNPT) và Next TV (Viettel) khai thác.
Công nghệ truyền hình IPTV TPTV (viết tắt của Internet Protocol Television, có nghĩa: Truyền hình giao thức Internet) là một hệ thống dịch vụ truyền hình kỹ thuật số được phát đĩ nhờ vào giao thức Internet thông qua một hạ tầng mạng, ma ha tang mang này có thể bao gồm việc truyền thông qua một kết nối băng thông rộng. Một định nghĩa chung của IPTV là truyền hình, nhưng thay vì qua hình thức phát hình vô tuyến hay truyền hình cáp thì lại được truyền phát hình đến người xem thông qua các công nghệ sử dụng cho các mạng máy tính. 9 Đối với những hộ sử dụng, IPTV thường được cung cấp cùng với video theo yêu cầu và có thể được gộp chung với các dịch vụ Internet như truy cập web va VoIP. Sự kết hợp thương mại của IPTV, VoIP va truy cap Internet được xem như là một dịch vụ "Triple Play" (có thể gọi là trò chơi gdm ba thành phần, hay Tam giác) (nếu thêm tính di động thì sẽ được gọi là "Quadruple Play").
IPTV tiêu biểu được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ sử dụng hạ tầng mạng gần kề. Phương pháp mạng gần kể này đang cạnh tranh với việc phát sóng nội dung TV trên Internet công cộng, được gọi là Truyền hình Internet. Trong thương mại, IPTV có thể được dùng để phát nội dung truyền hình thông qua mạng nội bộ LANs hợp tác. Với khách hàng đầu cuối, IPTV thường cung cấp dịch vụ VoD (Video øn Demand) và có thể kết hợp với các dịch vụ Internet như truy cập web và VoIP.
a) Một số đặc tính của IPTV - Hỗ trợ truyền hình tương tác: Khả năng hai chiều của hệ thống IPTV. cho phép nhà cung cấp dịch vụ phân phối toàn bộ các ứng dụng TV tương tác. Các loại dịch vụ được truyền tải thông qua một dịch vụ IPTV có thể bao gồm TY trực p chuẩn, TV chất lượng cao (HDTV), trò chơi tương tác, và khả năng duyệt Internet tốc độ cao. - Sự dịch thời gian: IPTV kết hợp với một máy ghi video kĩ thuật số cho phép dịch thời gian nội dung chương trình - một cơ chế cho việc ghi và lưu trữ nội dung IPTV để xem sau.
- Cá nhân hóa: Một hệ thống IPTV từ kết cuối kết cuối hỗ trợ truyền thông tin hai chiều và cho phép người dùng ở kết cuối cá nhân hóa những thói quen xem TV của họ bằng cách cho phép họ quyết định những gi họ muốn xem và khi nào họ muốn xem. - Yêu cầi :È băng thông thấp: Thay vì phân phối trên mọi kênh để tới mọi người dùng, công nghệ IPTV cho phép nhà cung cấp dịch vụ chỉ 10 truyền trên một kênh mà người dùng yêu cầu. Đặc điểm hấp dẫn này cho phép nhà điều hành mạng có thể kiệm băng thông của mạng. - Có thể truy xuất qua nhiều thiết bị: Việc xem nội dung IPTV bây giờ không chỉ giới hạn ở việc sử dụng TV.
Người dùng có thể sử dụng máy PC hay thiết bị di động để truy xuất vào các dịch vụ IPTV. b) Các dịch vụ cung cắp bởi IPTV - Cung cấp các dịch vụ quảng bá: Quảng bá ti vi (Broadcast TV); kênh âm thanh (Audio Channel); truyền hình trực tuyến (Time - Shift TV); VOD băng hẹp. - Cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu: Video theo yêu cầu (Video on Demand ~ VoD); dim nhac theo yéu cau (Music on Demand ~ MoD); TV theo yêu cầu (TV on Demand - TVoD). - Cung cấp các dịch vụ tương tác: thông tin tương tác (Interactive Information); truyền hình tương tác (Interactive TV); công ích, từ thiện, trực tuyến (Online Subscription); đánh bạc trực tuyến (Online Gambling); phỏng vấn trực tuyến (Online Bill Enquiry); trò chơi (Game); Web; Email; TV thuong mai (TV - Commerce).
HANH VI NGUOI TIEU DUNG 1. Khái niệm Hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định về việc mua cái gì, tại sao, khi nào, như thế nào, nơi nào, bao nhiêu, bao lâu một lần, liệu như thế thì sao mà mỗi cá nhân, nhóm người tiêu dùng phải có quyết định qua thời gian về việc chọn dùng sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc các hoạt động (Wayne D.Macinnis, 2008 trích trong Nguyễn Thị Thùy Miên, 201 1). Hành vi mua sắm của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm i và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn như cầu cá nhân của họ (Peter D.Bennett, 1995 trích trong Nguyễn Ngọc Duy Hoàng, 2011). Hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ (Leon Schiffman, David Bednall và Aron O’cass, 2005 trích trong Nguyễn Thị Thùy Miên, 201 1).
Theo Philip Kotler (2004), trong marketing, nhà tiếp thị nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận nhu cầu, sở thích, thói quen của họ, cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đây người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình. Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn vượt xa hơn các khía cạnh nói trên.