Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng sở hữu chiều dài bờ biển 92 km cùng 6 trên 8 quận, huyện có hơn 80% dân số sinh sống tiếp giáp với biển, tạo tiền đề tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế biển. Đến năm 2016, toàn thành phố có 25 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản, thu hút hơn 6.000 lao động (chiếm 6% tổng số lao động toàn ngành công nghiệp) với quy mô vốn đầu tư sản xuất kinh doanh đạt trên 2.500 tỷ đồng. Mặc dù đóng vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, năng lực sản xuất thực tế của các doanh nghiệp chế biến thủy sản Đà Nẵng chưa được khai thác tối đa. Tổng công suất thiết kế của nhóm sản phẩm thủy sản đông lạnh đạt gần 35.000 tấn/năm, nhưng sản lượng thực tế năm 2015 chỉ đạt 18.330 tấn (tương đương 52,3% công suất thiết kế) và năm 2016 đạt khoảng 19.500 tấn.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đang đối mặt với hàng loạt rào cản nội tại như: quy mô sản xuất chủ yếu là gia công thô với giá trị gia tăng thấp; nguồn nguyên liệu thu mua tại địa phương chiếm 64% nhưng có tới 98% đến từ khai thác biển gần bờ mang tính manh mún, phụ thuộc vào hệ thống thương lái trung gian; giá trị tài sản cố định bình quân trên một lao động chỉ đạt 164,8 triệu đồng, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 360,1 triệu đồng của toàn ngành công nghiệp thành phố. Áp lực cạnh tranh quốc tế từ các hiệp định thương mại tự do và rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt đòi hỏi phải có một nghiên cứu toàn diện về các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đo lường tác động của các nhân tố bên trong đến năng lực cạnh tranh của 25 doanh nghiệp chế biến thủy sản tại Đà Nẵng giai đoạn 2010–2016, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu suất sử dụng công suất từ 52,3% lên trên 75% và mở rộng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cạnh tranh dựa trên năng lực (Competence-Based View - CBV) do Barney, Wernerfelt, Sanchez và Heene phát triển, kết hợp với mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter. Lý thuyết CBV nhấn mạnh rằng lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp bắt nguồn từ việc tích lũy, kết hợp và khai thác tối ưu các nguồn lực nội tại độc đáo và năng lực cốt lõi.

Kế thừa có chọn lọc các mô hình đo lường năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam của tác giả Phạm Thu Hương và mô hình hội nhập của GS.TS Hồ Đức Hùng, luận văn đã chuẩn hóa 5 khái niệm trọng tâm: Cạnh tranh thị trường, Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp, Năng lực cốt lõi, Năng lực động và Hiệu quả kinh doanh bền vững. Khung phân tích mở rộng bao gồm 8 nhân tố độc lập bên trong tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh: Năng lực tổ chức quản lý; Năng lực marketing; Năng lực tài chính; Năng lực tiếp cận và đổi mới khoa học công nghệ; Năng lực tổ chức dịch vụ; Năng lực tạo lập mối quan hệ; Trình độ của người lao động; và Trình độ nghiên cứu phát triển (R&D).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp kết hợp giữa định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy của dữ liệu:

  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành qua 2 vòng phỏng vấn chuyên sâu. Vòng 1 thực hiện phỏng vấn 26 đối tượng gồm đại diện Ban giám đốc doanh nghiệp chế biến thủy sản, lãnh đạo các Sở, ban ngành quản lý nhà nước và khách hàng tiêu thụ lớn để hiệu chỉnh thang đo ban đầu từ 35 biến quan sát lên 37 biến. Vòng 2 mở rộng lấy ý kiến 6 chuyên gia nghiên cứu và 10 lượt người lao động trực tiếp nhằm hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát chính thức.
  • Nghiên cứu định lượng: Cỡ mẫu khảo sát thực tế được xác định là 285 mẫu, phân bổ theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp phân tầng cho các nhà quản trị doanh nghiệp, cán bộ quản lý nhà nước, chuyên gia và công nhân kỹ thuật. Kích thước mẫu này hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu của phân tích nhân tố khám phá (theo Hair và cộng sự, cỡ mẫu tối thiểu gấp 5 lần số biến quan sát: 37 biến x 5 = 185 mẫu, nghiên cứu chọn 285 mẫu để tăng độ tin cậy) và phân tích hồi quy đa biến (theo công thức n = 50 + 8*m của Tabachnick và Fidell).
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS với quy trình kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (hệ số tin cậy > 0,6; hệ số tương quan biến - tổng > 0,3), phân tích nhân tố khám phá EFA (hệ số KMO > 0,5; kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê p < 0,05; Eigenvalue > 1; tổng phương sai trích > 50%), phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính bội kết hợp phân tích ANOVA. Timeline thu thập và xử lý số liệu kéo dài xuyên suốt chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2016 và dữ liệu sơ cấp năm 2016–2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Cơ cấu quy mô lao động và vốn sản xuất còn hạn chế: Trong tổng số 25 doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn, có đến 68% doanh nghiệp có quy mô lao động từ 10 đến dưới 200 người, nhóm doanh nghiệp quy mô lớn trên 500 lao động chỉ chiếm 8%. Về vốn sản xuất kinh doanh, 68% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 50 tỷ đồng (trong đó 24% doanh nghiệp dưới 1 tỷ đồng), chỉ có 12% doanh nghiệp đạt mức vốn trên 100 tỷ đồng.
  • Hiệu suất khai thác công suất và cơ cấu sản phẩm thô: Tỷ lệ vận hành công suất chế biến thủy sản đông lạnh chỉ đạt 52,3% (18.330 tấn vào năm 2015) so với công suất thiết kế 35.000 tấn/năm. Nhóm sản phẩm chế biến giá trị gia tăng khác (đóng hộp, hun khói, chả cá) chỉ đạt 2.800 tấn/năm, tương đương 53,8% công suất thiết kế 5.200 tấn/năm.
  • Thị trường tiêu thụ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu: Doanh thu xuất khẩu chiếm tới 75,3% cơ cấu tiêu thụ, tập trung chủ yếu vào 4 thị trường trọng điểm: Nhật Bản (35%), Liên minh Châu Âu EU (25%), Hoa Kỳ (20%) và Hàn Quốc (15%). Thị trường nội địa tại Đà Nẵng chỉ chiếm 15,7%, phần lớn là hàng gia công.
  • Chuỗi cung ứng đầu vào thiếu bền vững: Nguồn nguyên liệu thủy sản phục vụ chế biến phụ thuộc 98% vào khai thác tự nhiên và chỉ 2% từ nuôi trồng. Nguyên liệu thu mua tại chỗ đạt 64%, thu mua ngoại tỉnh chiếm 35% và nhập khẩu chỉ chiếm 1%, gây rủi ro lớn khi nguồn lợi thủy sản gần bờ suy giảm.
  • Kết quả mô hình kinh tế lượng: Sau quá trình kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích EFA, mô hình hồi quy khẳng định cả 8 nhóm nhân tố đều có tác động dương có ý nghĩa thống kê đến năng lực cạnh tranh tổng thể của các doanh nghiệp thủy sản, trong đó Năng lực tổ chức quản lý, Năng lực tài chính và Trình độ của người lao động thể hiện hệ số tác động chuẩn hóa cao nhất.

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực cạnh tranh thấp của các doanh nghiệp chế biến thủy sản Đà Nẵng xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa trang bị công nghệ và nguồn lực tài chính. Chỉ số trang bị tài sản cố định bình quân chỉ đạt 164,8 triệu đồng/lao động phản ánh mức độ tự động hóa và hiện đại hóa dây chuyền sản xuất còn rất khiêm tốn so với mặt bằng chung toàn ngành công nghiệp thành phố (360,1 triệu đồng/lao động). Điều này giải thích tại sao chỉ có 12 trên 25 doanh nghiệp đạt chứng nhận quản lý chất lượng quốc tế như ISO 9001, ISO 22000 hoặc HACCP.

So sánh với các nghiên cứu trước đây về doanh nghiệp nhỏ và vừa của tác giả Phạm Thu Hương, nghiên cứu này chứng minh rõ nét sự khác biệt mang tính đặc thù ngành: Trình độ của người lao động và Năng lực nghiên cứu phát triển (R&D) đóng vai trò sống còn trong việc thích ứng với các rào cản kỹ thuật khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm và kiểm soát dư lượng kháng sinh từ thị trường Nhật Bản và EU.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được thể hiện qua bảng tổng hợp hệ số hồi quy đa biến thể hiện mức độ tác động của 8 nhân tố độc lập, kết hợp với biểu đồ cột nhóm so sánh công suất thiết kế 35.000 tấn với sản lượng thực tế qua từng năm giai đoạn 2010–2016, giúp người đọc nhận diện rõ nét khoảng trống công suất chưa được khai thác.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hiện đại hóa công nghệ và gia tăng tỷ trọng chế biến sâu: Ban Giám đốc các doanh nghiệp chế biến thủy sản cần chủ động đầu tư dây chuyền cấp đông nhanh IQF và công nghệ đóng gói tự động, nâng mức trang bị tài sản cố định từ 164,8 triệu đồng/lao động lên mức 300 triệu đồng/lao động. Mục tiêu nâng tỷ lệ sản phẩm tinh chế có giá trị gia tăng cao từ mức ước tính 20% lên 45% tổng sản lượng trong lộ trình 2018–2022.
  • Tái cấu trúc chuỗi cung ứng và liên kết bao tiêu nguyên liệu: Phòng Thu mua doanh nghiệp phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đà Nẵng thiết lập hợp đồng liên kết trực tiếp với các hợp tác xã đánh bắt xa bờ và đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá, giảm tỷ lệ phụ thuộc vào thương lái trung gian từ 64% xuống dưới 30%, đảm bảo truy xuất nguồn gốc 100% lô hàng xuất khẩu trước năm 2020.
  • Đa dạng hóa thị trường và phát triển kênh tiêu thụ nội địa: Bộ phận Marketing đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa từ mức 15,7% lên 30% doanh thu, đồng thời duy trì và mở rộng thị phần tại 4 thị trường xuất khẩu trọng điểm (Nhật Bản 35%, EU 25%, Mỹ 20%, Hàn Quốc 15%) thông qua việc đạt chuẩn 100% chứng nhận ISO 22000 và HACCP cho toàn bộ 25 doanh nghiệp trước năm 2021.
  • Nâng cao năng lực quản trị tài chính và chất lượng nguồn nhân lực: Ban Lãnh đạo doanh nghiệp cơ cấu lại nguồn vốn ngắn và dài hạn, nâng tỷ suất sinh lời trên vốn kinh doanh lên mức tối thiểu 15%/năm, đồng thời liên kết với các trường đại học tại địa phương tổ chức đào tạo định kỳ kỹ năng vận hành công nghệ và quản trị chất lượng cho hơn 6.000 lao động ngành thủy sản giai đoạn 2018–2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban lãnh đạo và Giám đốc điều hành các doanh nghiệp chế biến thủy sản: Cung cấp khung đánh giá 8 nhân tố nội tại và bộ tiêu chí 37 biến quan sát giúp doanh nghiệp tự định vị năng lực cạnh tranh, tối ưu hóa công suất máy móc và xây dựng chiến lược R&D sản phẩm phù hợp với thị trường quốc tế.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Công Thương, Sở NN&PTNT TP. Đà Nẵng): Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng về 25 doanh nghiệp, cơ cấu vốn và lao động phục vụ công tác quy hoạch phát triển cụm công nghiệp chế biến thủy sản và ban hành chính sách hỗ trợ tín dụng công nghệ đóng tàu, chế biến xa bờ.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Quản trị kinh doanh: Cung cấp tài liệu tham khảo học thuật giá trị về ứng dụng lý thuyết CBV, quy trình nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích EFA và hồi quy đa biến trên phần mềm SPSS cho các đề tài kinh tế ngành.
  • Các hiệp hội ngành nghề và tổ chức xúc tiến thương mại: Nắm bắt cơ cấu kim ngạch xuất khẩu 75,3% và đặc điểm rào cản kỹ thuật tại thị trường Nhật Bản, EU, Mỹ để tổ chức các chương trình kết nối giao thương và đào tạo tiêu chuẩn chất lượng hàng rào kỹ thuật cho hội viên.

Câu hỏi thường gặp

  • Nhân tố nội tại nào tác động mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chế biến thủy sản tại Đà Nẵng?
    Kết quả phân tích hồi quy từ 285 phiếu khảo sát chỉ ra rằng Năng lực tổ chức quản lý, Năng lực tài chính và Trình độ của người lao động là 3 nhân tố có tác động tích cực và mạnh mẽ nhất, quyết định trực tiếp đến khả năng kiểm soát chất lượng và mở rộng thị phần xuất khẩu.

  • Tại sao hiệu suất sử dụng công suất thiết kế của các doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 52,3%?
    Nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu chế biến ổn định (98% phụ thuộc vào đánh bắt biển tự nhiên), tình trạng tranh mua ép giá của thương lái trung gian và sự suy giảm sản lượng đánh bắt gần bờ, khiến các nhà máy thiếu nguyên liệu vận hành hết công suất thiết kế 35.000 tấn/năm.

  • Điểm mới nổi bật của mô hình nghiên cứu trong luận văn này là gì?
    Luận văn đã kế thừa mô hình 6 nhân tố truyền thống và bổ sung thêm 2 nhân tố đặc thù ngành là "Trình độ của người lao động" và "Trình độ nghiên cứu phát triển (R&D)", được chuẩn hóa qua 2 vòng nghiên cứu định tính với 37 biến quan sát đo lường.

  • Các doanh nghiệp chế biến thủy sản Đà Nẵng cần đáp ứng những tiêu chuẩn quốc tế nào để giữ vững thị phần xuất khẩu?
    Doanh nghiệp bắt buộc phải áp dụng và duy trì các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, ISO 9001, ISO 14001 và ISO 22000 nhằm vượt qua các rào cản khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm và dư lượng kháng sinh tại các thị trường trọng điểm như Nhật Bản (35%) và EU (25%).

  • Quy mô mẫu 285 phiếu có đảm bảo độ tin cậy thống kê cho phân tích định lượng không?
    Quy mô 285 mẫu hoàn toàn đảm bảo tính đại diện khoa học, vượt xa mức tối thiểu 185 quan sát theo quy tắc phân tích nhân tố khám phá EFA của Hair và cộng sự (tỷ lệ 5 mẫu/1 biến quan sát cho 37 biến) và công thức hồi quy đa biến của Tabachnick & Fidell.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng của 25 doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với quy mô vốn trên 2.500 tỷ đồng và 6.000 lao động.
  • Xác định điểm nghẽn cốt lõi trong hoạt động sản xuất khi sản lượng chế biến đông lạnh chỉ đạt 18.330 – 19.500 tấn/năm, tương đương 52,3% công suất thiết kế do đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu khai thác.
  • Xây dựng và kiểm định thành công mô hình kinh tế lượng 8 nhân tố nội tại với 37 biến quan sát chuẩn hóa thông qua 285 mẫu khảo sát thực chứng trên phần mềm SPSS.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp chiến lược đồng bộ về công nghệ, chuỗi cung ứng, thị trường và tài chính với lộ trình triển khai chi tiết từ năm 2018 đến 2023.
  • Các nhà quản trị doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách cần nhanh chóng ứng dụng khung kết quả nghiên cứu này để tái cấu trúc chuỗi giá trị thủy sản Đà Nẵng, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.