Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách làng khi sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tứ. Chương 2: A6 hình và Phương pháp nghỉ cứu Chương 3: Giới thiệu về Vietinbank chỉ nhánh Thành phố Vinh và kết quả. nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dich vụ Ngân hàng điện tử tại Vietinbank chỉ nhánh Thành phố Vĩnh CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SU HAI LONG CUA KHACH HAN SỬ DỤNG DICH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Sự hài lòng của khách hàng.
Khái niệm ~ Khách hàng: Là người mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua. Sự hải lòng của khách hảng phản ánh chất lượng của sản phẩm cũng như. dich vụ mà công ty cung ứng có đáp ứng được những mong đợi của khách hing hay không. Hải lòng là một loại trạng thái tâm lý kích thích nảy sinh của khách hàng khi đã tiếp nhận sản phẩm hoặc sự phục vụ cùng với các thông tin của nó.
Từ trước đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đã có nhiều phát biểu khác nhau về sự hài lòng của khách hàng: = Theo Tse và Wilton (1988): Sự hài lòng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó (hoặc những. tiêu chuân cho sự thể hiện) và sự thể hiện thật sự của sản phẩm như là một chấp nhận sau khi dùng nó. ~ Theo Spreng, MacKenzie va Olshavsky (1996): Sự hài lòng của khách hàng được xem là nền tảng trong khái niệm của marketing về việc thỏa mãn nhu cầu và mong ước của khách hàng. ~ Theo Bimer và Zeitham! (2003): Sự hài lòng là sự đánh giá của khách hàng phẩm hoặc dịch vụ trong suốt khoảng thời gian sản phẩm và dich vy thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ.
~ Theo Kotler và Keller (2006): Sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó. ~ Sự hài lòng của khách hàng: Lã sự so sánh chủ quan giữa mức độ mong muốn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ với thực tế đáp ứng sự hải lòng của dich vụ đó mang lại. Mắt quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng ~ Sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ là hai khái niệm phân. biệt nhưng có quan hệ gần với nhau.
Chất lượng dịch vụ là khái niệm khách quan, mang tính lượng giá và nhận thức, trong khi đó, sự hài lòng là sự kết hợp của các thành phần chủ quan, dựa vào cảm giác và cảm xúc (Shemnell er ai, 1998, dẫn theo Thongsamak, 2001). ~ Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng cho rằng: Chất lượng. dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin & Taylor, 1992; Yavas et al, 1997; Ahmad & Karmal, 2002). Néu nhà cung cấp dịch dich vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng tốt thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng.
~ Mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người tiêu dùng đã là một vấn để của cuộc tranh luận đáng kể trong các tài liệu marketing. Ba kiểu quan hệ cơ bản được đưa ra. Trước tiên, chất lượng dịch vụ được xác định là tiền đề của sự hài lòng /Anderson và Sullivan, 1993; Anderson và cộng sự, 1994; Cronin va Taylor, 1992; Gotlieb và cộng sự, 1994; Ifoodside và cộng su, 1989). ~ Trong mối quan hệ nhân quả này, sự hài lòng được mô tả như là một "đánh giá sau tiêu dùng của chất lượng được cảm nhận." (Anderson và Fornell, 1994; Rust va Oliver, 1994) cho ring chat lượng là "một trong những khía cạnh dịch vụ cầu.
thành sự hài lòng của người tiêu dùng". Tương tự, Parasưzaman và cộng sự (1985, 1988) cũng cho rằng chất lượng dịch vụ là một tiền đề của sự hài lòng khách hàng. ~ Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu tranh luận rằng sự hài lòng đó là tiền đề của chất lượng dịch vụ. Bimer (1990), dựa vào khái niệm của Ofiver (1980) về mỗi uan hệ giữa sự hài lòng, chất lượng dịch vụ và hàn vỉ iêu dàng đối với côn ty, cho rằng sự hài lòng về hệ thống giao tiếp dịch vụ (service encouter) là một tiề của chất lượng dich vụ.
Bolton va Drew (1991) bằng cách sử dụng một đại điện đại số của chất lượng dịch vụ, cũng ủng hộ cho mối quan hệ nhân quả này. Cuối cùng, Biiner và Hubbert (1994) đã biện hộ sự hài lòng là tiền đề cho chất lượng dịch vụ. dựa trên giả thuyết rằng chất lượng dịch vụ tương tự như một thái độ bao trùm và do đó chứa đựng sự đánh giá sự hài lòng nhất thời nhiều hơn. Do đó, từ các nghiên cứu trên ta có thể thấy chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có mối quan hệ rất là gần gũi với nhau.
Khi đánh giá sự hài lòng của khách hàng thì người ta thường đánh giá các khía cạnh của chất lượng dịch. vụ trước. Khi chất lượng dịch vụ tốt thì điều đó sẽ dẫn tới sự hài lòng của khách. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ tiến hành như vậy khi đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ của ngân hàng điện tử thông qua nghiên cứu về đánh giá chất lượng dịch vụ.
Cơ sở lý luận về dịch vụ 1.1 Định nghĩa Do tính chất phức tạp, đa dạng và vô hình của dịch vụ nên hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Dưới đây là một số các khái niệm về dịch vụ: ~ Theo Korler & Armstrong (2004): Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ich mà doanh nghiệp có thẻ cung cắp cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở. rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. ~ Theo sừ điển Bách khoa Việt Nam: Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn như câu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt.
~ Theo tiều chuẩn 1SO 9004: Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cắp để đáp ứng nhu câu khách hàng. ~ Theo Zeithaml & Brimer (2000): Dich vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn như cầu và mong đợi của khách hàng. ~ Theo cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch. Dịch vụ là các lao động của con người được kết tỉnh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị của các loại sản phẩm vô hình và không thể cằm.
Từ các quan điểm như trên, có thể đúc rút ra khái niệm chung về “Dịch vụ” như sau: dịch vụ là các hành vi lao động của con người được kết tỉnh trong các sản phẩm vô hình nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác nhau với đa dạng về: các loại hàng hóa. Mặc dù chưa có một khái niệm cụ thé, thống nhất về dịch vụ trên phạm vi toàn cầu, nhưng nhìn chung, dich vụ hàm chứa các thuộc tính cơ bản như sau: ~ Tĩnh vô hình (Intangibility): Một dịch vụ thuần túy không thể được đánh giá bằng cách sử dụng bất kỳ. giác quan cơ thể nào trước khi nó được mua.Mac đã nói: "Trong những trường hợp mà tiền được trực tiếp trao đổi lấy một lao động không sản xuất ra tư bản, tức là.
trao đổi lấy một lao động không sản xuất, thì lao động đó được mua với tư cách là một sự phục vụ.lao động đó cung cắp những sự phục vụ không phải với tư cách là một đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạt động.” Dịch vụ chỉ có thể nhận thức bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể “sờ mớ” sản phẩm dịch vụ hay đo lường sản phẩm dịch vụ bằng các dụng cụ đo lường về thể tích, trọng lượng. Vì vậy, để giảm sự không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các bằng chứng của chất lượng dịch vụ từ những đối tượng họ tiếp xúc, trang thiết bị.mà họ thấy được. ~ Tính không thề tách rời (Inseparability) Đặc thù của dịch vụ là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời cùng một lúc. Khác với sản xuất vật chất, sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó.
mới đem tiêu thu, dịch vụ không thể tách rời với nguồn gốc của nó, trong khi hàng. hóa vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt nguồn gốc của nó. Nếu một người nảo đó thuê dịch vụ thì bên cung cấp dịch vụ sẽ là một phần của dịch vụ, cho dù bên cung cấp dịch vụ là con người thật hay máy móc. Bởi vì khách hàng cũng sẽ có mặt lúc dịch vụ được cung cấp nên sự tương tác giữa bên cung cấp dịch vụ và khách hàng là một đặc tính đặc biệt của marketing dịch vụ.
~ Tính hay thay đổi (Variabiliy) Đặc tính này thể hiện ở đặc điểm chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp dịch vụ. phụ thuộc vào thời gian, địa điểm, hoàn cảnh tạo ra dịch vụ và cách thức dịch vụ được cung cấp. " = Tinh dé bj pha vo (Perishability) Dich vụ khác với các hàng hóa thông thường ở chỗ nó không thể được cất giữ. Tính không lưu giữ được của dịch vụ không phải là vấn đề quá lớn nếu như nhu cầu là ổn định và có thể dự đoán trước.
Tuy nhiên, thực tiễn nhu cầu dịch vụ thường không ổn định, luôn dao động thì công ty cung ứng dịch vụ sẽ gặp những. vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật. Nói cách khác, dịch vụ nhạy cảm hơn các hàng hóa thông thường khác trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu. Khi nhu cầu thay đổi thì các công ty dịch vụ thường.
gặp khó khăn chính vì vậy các công ty dịch vụ luôn phải tìm cách để làm cung và cầu phù hợp nhau. 1 Sự khác nhau giữa dịch vụ và sản phẩm hữu hình “Thông qua khái niệm và một số đặc tính trên của dịch vụ, có thể thấy một số.